kissinger, schlesinger, colby. ủy ban hành động, buổi họp thảo luận về Việt nam

 BIÊN BN BUI HP CA Y BAN HÀNH ĐỘNG HOA THNH ĐỐN

Hoa Thịnh Đốn ngày 2 tháng 4 năm 1975
 

Minutes of Washington Special Actions Group Meeting1

Washington, April 2, 1975, 10:43–11:28 a.m.

SUBJECT: INDOCHINA
Chủ tọa: Henry A. Kissinger
Bộ Ngoại Giao: Robert Ingersoll, Philip Habib, Robert Miller, Carlyle Maw
Bộ Quốc Phòng : Bộ trưởng: James Schlesinger, William Clements, Robert,  Ellsworth, Morton Abramowitz
JCS: Lt. Gen. John W. Pauly
CIA: William Colby
NSC Staff: Lt. Gen. Brent Scowcroft, W.R. Smyser, William Stearman, David Ransom, James Barnum
                    ____________________________


Kissinger: Có bất kỳ người lính miền Nam nào đang chiến đấu không?

Colby: Không nhiều. Có một vài đơn vị rải rác khắp cả nước vẫn đang chiến đấu, nhưng không nhiều.

Kissinger: Có bất kỳ người lính miền Nam nào chiến đấu vào bất kỳ thời điểm nào trong giai đoạn này của cuộc chiến không?

Colby: Không, thực sự là không. Đó là ảnh hưởng của cú “shock” sốc.

Schlesinger: Có rất ít sự kháng cự. Ở tỉnh Tây Ninh vẫn còn một số lính chiến đấu khá giỏi. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng còn một số người.

Kissinger: Theo tôi, dường như không ai ở miền Nam Việt Nam chiến đấu cả. Dường như đó là sự sụp đổ hoàn toàn.

Colby: Đó là tâm lý của tình hình – ảnh hưởng của cú sốc. Ảnh hưởng cú sốc của sự sụp đổ đã lan truyền trước khi quân đội phản ứng.

Schlesinger: Có một số đơn vị quân đội đã giữ vững trận địa. Sư đoàn 22 đã chiến đấu khá tốt. Thực sự là tình hình khá hỗn loạn khắp cả nước. Một số đơn vị giữ vững trận địa, những đơn vị khác thì không.

Kissinger: Tất nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ giữ vững trận địa.

Schlesinger: Đó là ảnh hưởng của cú sốc của việc rút quân nhanh chóng dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống mong manh đó. Nếu họ giữ vững trận địa, có lẽ họ đã có thể giữ được các tỉnh Pleiku và Kontum. Tôi không biết. Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng tình hình sẽ tồi tệ đến mức này nếu họ giữ vững trận địa.

Colby: Có hai điều chính góp phần vào tình hình này: việc di tán hỗn loạn ở các tỉnh Pleiku và Kontum, và di tán ở Huế. (Tiếp tục báo cáo.)

Kissinger: Hãy để tôi nắm vững vấn đề. Có bất kỳ nơi nào – bất kỳ nơi nào mà quân đội miền Nam có cơ hội thiết lập một tuyến phòng thủ và ngăn chặn quân đội miền Bắc không?

Colby: Có, ở đây phía bắc Sài Gòn (chỉ vào một đường trên bản đồ). Kế hoạch hiện tại là đưa tàn quân của Sư đoàn 2 đến đây (chỉ vào bản đồ) và thiết lập một tuyến phòng thủ.

Schlesinger: Điều đó là vô vọng!

Kissinger: Kinh nghiệm của tôi cho thấy quân đội miền Nam không giỏi tấn công ở khu vực đó (phía bắc Sài Gòn).

Schlesinger: Tất cả nỗ lực đó là vô vọng!

Colby: Ngoài ra, họ đang điều động một số quân từ Vũng Tàu lên. Tôi nghĩ đó là Sư đoàn 18.

Kissinger: Đơn vị đó có chiến đấu giỏi không?

Schlesinger: Không. Trên thực tế, đó là sư đoàn tệ nhất trong tất cả.

Có một tiểu đoàn Nhảy dù từ Quân khu 1 không tệ lắm.

Kissinger: Theo tôi nhớ, Sư đoàn 1 đã chiến đấu giỏi vào năm 1972.

Colby: Đúng vậy, và họ đã chiến đấu giỏi lần này cho đến khi tình hình bắt đầu lung lay. Ngoài ra, quân đội miền Nam có thể huy động (để bảo vệ Sài Gòn) Lữ đoàn 2/Nhảy dù hiện đang ở phía nam, Sư đoàn 25, không quá tệ, và ba sư đoàn khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Câu hỏi đặt ra là, liệu Sài Gòn có đủ khả năng điều động các đơn vị này để giúp đỡ phía bắc Sài Gòn hay không? Tôi không biết. Chúng ta đã có những dấu hiệu về hoạt động gia tăng của CQ ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Kissinger: Ông nghĩ sao, liệu miền Nam Việt Nam có sụp đổ trước khi mùa mưa bắt đầu không?

Schlesinger: Vâng, tôi nghĩ tối đa là 60 đến 90 ngày. Tuy nhiên, có thể sụp đổ trong vòng 3 tuần.

Clements: Tôi đã nói chuyện với Tham mưu trưởng (Bộ Tham mưu Liên quân) ngày hôm qua, và họ chỉ ra rằng mùa mưa sẽ không ảnh hưởng đến Đồng bằng sông Cửu Long. Họ đã nói rất rõ ràng về điều đó. Mùa mưa ảnh hưởng đến chiến đấu ở vùng cao nguyên, nhưng không ảnh hưởng đến Đồng bằng sông Cửu Long.

Kissinger: Vâng, năm 1972 họ đã chiến đấu đến tận tháng Bảy.

Clements: Hơn nữa, CSBV không gặp bất kỳ vấn đề nào về tiếp vận khi vận chuyển tiếp liệu từ phía bắc xuống. Có hệ thống đường trải nhựa khắp khu vực đó (xung quanh Sài Gòn). Tình hình không giống nhau.

Kissinger: Được rồi, chúng ta chỉ cần chuẩn bị cho sự sụp đổ của miền Nam trong vòng ba tháng tới.

Schlesinger: Tôi nghĩ chúng ta nên chuẩn bị cho sự sụp đổ trong vòng ba tuần.
Tướng Smith (của DAO) nói rằng Sài Gòn có thể sụp đổ chỉ trong vài ngày. Tôi nghĩ đó là tình huống xấu nhất. Tôi nghĩ chúng ta có từ ba đến bốn tuần. Tôi không nghĩ là còn hơn 45 ngày nữa đâu.

Kissinger: Tất cả mọi người đều đồng ý với điều đó chứ? Bill?

Colby: Vâng. Điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Kissinger: Về căn bản, vậy thì không thể làm gì được nữa.

Schlesinger: Tôi không nghĩ ra được điều gì cả. Tướng Weyand (Tham mưu trưởng Lục quân), qua các cuộc điện đàm, ông ấy, tỏ ra bi quan hơn nhiều so với khi ông ấy mới đến đó. Ông ấy rất bi quan về tình hình. Và, ông ấy chủ yếu nói chuyện với những người lạc quan.

Colby: Tôi nghĩ chỉ còn hai khả năng: một sự ổn định tạm thời xung quanh Sài Gòn, và sự sụp đổ hoàn toàn trong vài tuần tới.

Kissinger: Tất cả những điều này đều bắt nguồn từ chiến lược rút quân của Thiệu, đúng không?

Schlesinger: Đúng. Có một khía cạnh khác của tình hình mà tôi muốn đề cập đến. Chúng ta có những dấu hiệu cho thấy Sư đoàn 5/CSBV đã được lệnh cắt đứt các con đường phía nam Sài Gòn. khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Điều chúng ta sẽ bắt đầu thấy là sự tan rã của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Colby: Chúng ta cũng có những dấu hiệu cho thấy hai sư đoàn Bắc Việt thuộc lực lượng trừ bị đang bắt đầu di chuyển về phía nam……………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………….

Kissinger: Tôi đồng ý. Hãy đưa những nhân viên không cần thiết ra khỏi đó ngay bây giờ. Về việc di tản ở Việt Nam. Tôi nghĩ (Đại sứ) Martin nên bắt đầu chuẩn bị kế hoạch di tản.

Schlesinger: Chúng ta nên thúc giục ông ấy làm việc đó một cách nhanh chóng. Chúng ta nên đưa tất cả những người không cần thiết ra khỏi đó càng nhanh càng tốt.

Kissinger: Được rồi, có ai phản đối việc này không?

Tất cả: Không.

Schlesinger: Được rồi, chúng ta sẽ bắt đầu làm việc đó.

Kissinger: Tôi nghĩ chúng ta nên làm như chúng ta đã làm ở Phnom Penh—hãy để (Đại sứ) Graham Martin đến gặp Thiệu và nói với ông ấy những gì chúng ta đang làm, đó là di tản tất cả những người đã chạy khỏi miền Bắc và tất cả những người thân của họ.

Habib: Ông sẽ phải lo lắng về công dân của các nước thứ ba…

Kissinger: Chúng ta không cần phải lo lắng về họ bây giờ. Cách tốt nhất để bắt đầu là di tản tất cả những người Mỹ đã chạy trốn từ miền Bắc—dù sao họ cũng không hữu ích ở Sài Gòn—người thân và những người tạm trú. Chúng ta có thể chờ đợi những người cư trú. Họ là ai vậy?

Habib: Các doanh nhân, những người mang quốc tịch Mỹ sống và làm việc tại Việt Nam.

Kissinger: Chúng ta phải cẩn thận để việc di tản của chúng ta không gây ra sự sụp đổ của chính phủ Thiệu. Tôi nghĩ có những lý do chính đáng để di tản những người từ miền Bắc và người thân của họ. Có khoảng 2.000 người phải không? Đại sứ quán nên thông báo cho những người cư trú rằng tình hình rất nguy hiểm và thúc giục họ rời đi. Hãy xem xét tình hình sau 48 giờ nữa. Trong thời gian đó, hãy bắt đầu tiến hành.

Schlesinger: Trên thực tế, tình hình ở miền Nam Việt Nam còn tồi tệ hơn nhiều so với Phnom Penh…

Kissinger: Có người Mỹ nào ở ngoài Sài Gòn không?

Habib: Có.

Kissinger: Chúng ta nên khuyên họ rút về Sài Gòn. Tôi muốn thực hiện việc rút quân theo từng giai đoạn.

Habib: Nếu chính phủ sụp đổ, chúng ta có thể không còn thời gian nữa.

Tình hình có thể rất hỗn loạn.

Kissinger: Ông có kế hoạch đưa họ ra ngoài không?

Habib: Chúng tôi sẽ làm việc đó trước cuối ngày.

Kissinger: Chúng ta đã chi hàng triệu đô la trong suốt mười năm qua để CSBV có thể tàn phá miền Nam Việt Nam.

Tôi nghĩ chúng ta mắc nợ—đó là bổn phận của chúng ta—phải đưa những người đã tin tưởng vào chúng ta ra ngoài. Chúng ta có danh sách những người miền Nam Việt Nam mà chúng ta muốn đưa ra ngoài không?

Habib: Có một danh sách, nhưng nó còn hạn chế.

Kissinger: Hãy bảo Graham Martin cung cấp cho chúng ta danh sách những người miền Nam Việt Nam mà chúng ta cần đưa ra khỏi đất nước. Hãy nói với Graham rằng chúng ta phải có danh sách đó trước ngày mai (ngày 3 tháng 4 năm 1975).

Habib: Vấn đề là có nhiều loại người khác nhau. Có người thân của người Mỹ, hàng chục nghìn người (người Việt Nam) đã làm việc cho chúng ta... Một điều tôi muốn đề nghị là Tòa Đại sứ nên tiêu hủy tất cả hồ sơ nhân sự khi họ rời đi.

Kissinger: Dù sao thì Cộng sản cũng sẽ biết họ là ai.

Hãy xem xét các loại người khác nhau cần được đưa ra ngoài. Có thể lên đến hơn 10.000 người.

Habib: Đã có 93.000 người trong danh sách rồi.

Kissinger: Được rồi, hãy lấy danh sách đó. Chúng ta sẽ cố gắng hết sức có thể.

Stearman: Con số có thể lên đến một triệu người.

Kissinger: Chà, đó là một điều mà Quốc hội này không thể từ chối—viện trợ nhân đạo để đưa người dân ra ngoài.

Habib: Điều đó phụ thuộc vào bản chất của sự sụp đổ.

Kissinger: Bill (Bill Colby), chúng ta phải đưa những người đã tham gia chương trình Phoenix ra khỏi.

Colby: Vâng. Chúng ta có thể nói về việc đàm phán để thả người. (Đàm phán với CSBV sau khi họ tiếp quản).

Kissinger: Đừng tự lừa dối mình. CSBV sẽ không bao giờ đồng ý.
Habib: Họ đã làm như vậy với người Pháp vào năm 1954.

Kissinger: Họ đã làm như vậy với người Pháp vào năm 1954 vì họ đã bị chống đối bằng vũ lực. Chúng ta không còn con bài nào để tháu cáy. Chúng ta không còn lợi thế nào cả. Chúng ta không còn gì cả. Tôi đảm bảo rằng chúng ta sẽ không nhận được bất kỳ sự hợp tác nào từ Lê Đức Thọ.

Stearman: Một giải pháp khả thi cho vấn đề di tản là chuyển một số người đến hai hòn đảo ngoài khơi.

Kissinger: Vâng, đó là một giải pháp. Hãy lập danh sách những người cần phải được di tản và nơi chúng ta nên đưa họ đến. Chúng ta có thể phải yêu cầu Quốc hội sử dụng lực lượng quân sự để giúp giải cứu những người này. Tôi không thể hiểu làm sao họ có thể từ chối.

Schlesinger: Vâng, sau 45 ngày tranh luận...

Colby: Có một vấn đề khác mà tôi muốn đề cập đến—tình hình chính trị ở Sài Gòn. Chúng ta đang nhận được tin đồn và các dấu hiệu về hành động nào đó nhằm lật đổ Thiệu. Một số tin đồn này cho thấy có chuyển động từ phía quân sự, một số khác cho thấy từ các phe phái khác như Phật giáo và các chính trị gia. Có khả năng chúng ta có thể thành lập một loại chính phủ liên minh nào đó—ít nhất là trong một thời gian ngắn.

Kissinger: Tôi cảm thấy rằng Bắc Việt muốn một nước Việt Nam thống nhất, chứ không phải một chính phủ liên minh hay chính phủ cách mạng lâm thời.

Colby: Tôi đồng ý, nhưng có thể sẽ có một loại tiến trình chính trị nào đó…

Kissinger: Ông có nghĩ rằng Thiệu có thể tồn tại được không?

Colby: Sẽ rất khó khăn. Nó phụ thuộc vào làn sóng chấn động…

Kissinger: Thực ra việc Thiệu có sống sót hay không cũng không quan trọng. Dù sao thì ông ta cũng sẽ hết thời trong sáu tháng nữa. Có ai phản đối không?

Schlesinger: Không.

Stearman: Ken Quinn nói rằng có rất nhiều ý kiến ​​muốn đưa Tướng Trưởng lên nắm quyền chỉ huy cuộc chiến.

Schlesinger: Đó chỉ là tượng trưng thôi. Ông ta đang bệnh.

Kissinger: Việc đưa Trưởng lên nắm quyền không làm thay đổi thực tế của tình hình. Khái niệm rút quân của Thiệu không sai, nhưng việc thực hiện lại tồi tệ. Ít nhất đó là cách tôi hiểu. Ông ta đã cố gắng tiết kiệm 75 triệu đô la bằng cách rút quân nhanh chóng, chiến đấu ở mức độ hạn chế vào năm sau, và hy vọng nhận được nhiều viện trợ hơn từ Mỹ vào năm 1977. Vấn đề là, ông ta chưa bao giờ hiểu được những khó khăn khi di tản một số lượng lớn quân đội cùng gia đình và tất cả mọi thứ.

Kissinger: Chúng ta sẽ không tham gia vào bất kỳ cuộc đàm phán nào giữa Bắc và Nam Việt Nam. Chúng ta sẽ để Bắc và Nam tự giải quyết – một mình. Hoa Kỳ sẽ không đàm phán về sự đầu hàng của Nam Việt Nam chừng nào tôi còn ngồi ở vị trí này. Tôi không muốn bất kỳ cuộc thảo luận nào thêm về vấn đề đó. Chúng ta cần duy trì vị thế quốc tế của mình và tôi không muốn nó bị tổn hại bởi việc chúng ta đàm phán về sự đầu hàng của Nam Việt Nam. Hoa Kỳ không thể đạt được bất cứ điều gì từ việc đó. Chúng ta không thể đóng góp bất cứ điều gì. Tôi đã đàm phán với những người này trong bốn năm. Chúng ta đã rút lui, bây giờ hãy để tình hình được giải quyết tại chỗ.

Bây giờ, chúng ta cần xác định những người cần phải ra đi. Và, tôi không loại trừ việc yêu cầu các quốc gia khác giúp đỡ chúng ta. Sau khi chúng ta xác định được những người cần phải ra đi, chúng ta sẽ cần phải hành động nhanh chóng. Tôi sẵn sàng xem xét khả năng yêu cầu Liên Xô và Trung Quốc giúp chúng ta đưa họ ra ngoài ……………………………………………………………………………………………………

………………………………….

Clements: Có một điều tôi muốn đề cập, Henry. Chúng ta sẽ làm gì về việc cung cấp thiết bị quân sự trong ngắn hạn?
Kissinger: Chúng ta có tiếp tục cung cấp thiết bị không?
Schlesinger: Vâng, vẫn còn một số đang trong quá trình vận chuyển.
Kissinger: Chúng ta nên tiếp tục.
Stearman: Graham Martin sẽ đến với một danh sách mua sắm. Nó có thể lên tới 700 triệu đô la.
Kissinger: Tôi nghĩ chúng ta nên trình Quốc hội một danh sách viện trợ nhân đạo và một danh sách quân sự đã được điều chỉnh. Một kế hoạch cho sáu tháng.
Clements: Con số đó có thể lên đến vài trăm triệu đô la.
Kissinger: Trước hết, chúng ta nên yêu cầu viện trợ nhân đạo đáng kể và một chương trình quân sự đã được điều chỉnh. Hoa Kỳ không thể chấp nhận việc cắt giảm viện trợ vào thời điểm này. Tôi nghĩ chúng ta nên yêu cầu khoản viện trợ bổ túc bổ sung 300 triệu đô la và viện trợ nhân đạo bổ túc.
Schlesinger: Dù sao thì Quốc hội cũng sẽ cắt giảm thôi …………………………………


Comments

Popular posts from this blog

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn,vùng 3 chiến thuật, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ , Sư đoàn 5BB/QLVNCH, . thiếu tướng Lê Minh Đảo, Sư đoàn 18BB