tinh trạng tinh thần dân miền nam, nhận định cỉa tòa đại sứ Mỹ, nguyễn văn thiệu

 TÌNH TRNG TINH THN TRONG DÂN CHÚNG MIN NAM VIT NAM VÀ NH HƯỞNG ĐẾN VIC THI HÀNH NGHĨA V QUÂN S VÀ DÂN S

     (Tham chiếu điện văn 086685 ngày 23/11/1974 tTĐS/SG gởi BNG/HK)
                                                                    Người dịch: Thềm Sơn Hà

Sau đây là nội dung bài viết, được soạn thảo một cách thận trọng theo yêu cầu của tôi bởi viên chức cao cấp của phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Sài Gòn.
Bài viết này cung cấp một sự phân tích hoàn toàn khách quan và không thiên vị.
Vấn đề này đã trở thành chủ đề của một số bài báo gần đây từ Sài Gòn, có phần phóng đại và nhìn chung là không chính xác.
Do đó, Bộ Ngoại giao có thể phân phối rộng rãi đến các phái đoàn ngoại giao, đến các cơ sở văn hóa và giáo dục, đến báo chí và quốc hội nhằm mang lại cái nhìn trung thực và cân bằng hơn.
                                                                              Đại sứ Martin

Tóm tắt
Mặc dù những báo cáo hiện nay về tình trạng tinh thần sa sút và thiếu niềm tin vào chính phủ trong dân chúng miền Nam Việt Nam chắc chắn dựa trên một số căn bản thực tế, tuy nhiên cần phải nhớ rằng những báo cáo tương tự đã xuất hiện nhiều lần trong suốt những năm cầm quyền của Thiệu và thường bị một số nhà quan sát nước ngoài hiểu sai, coi đó là dấu hiệu cho thấy sự sụp đổ sắp xảy ra của chính phủ.
Đúng là người lính và công chức Việt Nam bình thường không thể nuôi sống gia đình bằng tiền lương của mình, do đó tham nhũng đã trở nên phổ biến hơn (và bị chỉ trích nhiều hơn) trong xã hội so với trước đây, và chính phủ VNCH đang phải đối mặt với những vấn đề bên ngoài - cắt giảm viện trợ của Mỹ, áp lực quân sự liên tục từ phía Cộng sản, lạm phát toàn cầu và sự tăng giá mạnh mẽ của hàng hóa, đặc biệt là dầu và phân bón - điều này cản trở nghiêm trọng khả năng cải thiện nền kinh tế trong nước. Tuy nhiên, về mặt quân sự, không có bằng chứng vững chắc nào cho thấy yếu tố tinh thần đã ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả chiến đấu của quân đội VNCH ở giai đoạn này.
Ảnh hưởng cụ thể đáng kể hơn là sự thiếu hụt yểm trợ quân sự của Mỹ đến từ việc cắt giảm viện trợ đã mang lại tổn thất tác chiến cao hơn cho QL/VNCH, và điều này đã được người Việt Nam công nhận là đúng.
Trong số các công chức, mặc dù có sự sa sút về năng xuất công việc, đặc biệt là ở cấp thấp hơn, nhưng các nhiệm vụ thiết yếu của chính phủ vẫn tiếp tục - Cảnh sát vẫn làm tròn nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự, không có sự gián đoạn các dịch vụ công cộng căn bản.
Trong toàn thể dân chúng, căn cứ trên những tài liệu hạn chế cho phép đánh giá, đại đa số không có thái độ tích cực chống đối chính phủ, mặc dù việc chỉ trích chính phủ ở một vài lãnh vực rất là phổ biến.
Các cuộc thăm dò dư luận không đồng ý với quan điểm cho rằng tinh thần người dân ngày càng xuống dốc.
Năng suất của chính phủ được đánh giá là tốt hơn so với tháng 9 năm 1973 và tháng 6 năm 1972, và phần lớn những người được hỏi cảm thấy rằng chính phủ đáp ứng được nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, tham nhũng được cho là đã trở nên tồi tệ hơn trong năm năm qua.
Tóm lại, mặc dù tinh thần người dân miền Nam Việt Nam có lẽ dễ bị sa sút hơn trước đây, nhưng nó vẫn chưa tạo ra những lực lượng có thể cản trở vào việc thực thi hiến pháp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoặc việc điều hành chiến tranh ở mức độ mà chính phủ cho là cần thiết. Hết phần tóm tắt.

                                ************

1.- Tình trạng tinh thần của người dân miền Nam Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với ý chí quốc gia để sống còn chống lại áp lực chính trị và quân sự từ miền Bắc Việt Nam là một vấn đề nan giải, khiến các nhà phân tích Mỹ bối rối trong khoảng hai mươi năm.
Sự suy giảm tinh thần được cho là xảy ra trong số những người miền Nam không theo chủ nghĩa cộng sản là tâm điểm trong cuốn sách được đánh giá cao của Frances Fitzgerald, "Lửa trên hồ” "FIRE IN THE LAKE”. Điều này dường như là mối quan tâm hàng đầu của Malcolm W. Browne thuộc tờ "New York Times", bài báo "Vấn đề tinh thần nghiêm trọng của miền Nam Việt Nam" của ông đã được đăng trên một số tờ báo, bao gồm cả "Paris Herald Tribune" vào ngày 6 tháng 7 năm 1972.

Trích dẫn "một nhóm trong giới tinh hoa trí thức của miền Nam Việt Nam", ông Browne viết rằng "tinh thần quốc gia của miền Nam Việt Nam đã sụp đổ đến mức chỉ có một cuộc cách mạng toàn diện trong toàn bộ cấu trúc xã hội mới mang lại hy vọng cứu chửa."

Sau khi nêu ra nhiều khuyết điểm của Hoa Kỳ và chế độ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, không mấy ngạc nhiên khi "giới tinh hoa trí thức" kết luận rằng miền Nam Việt Nam là "xã hội như đám rừng, một sự hỗn loạn tàn bạo của sự thờ ơ, tham lam và sợ hãi" và trong tình huống vô vọng này (chỉ có) "những người Cộng sản mới có cả sức mạnh và ý chí để khôi phục Việt Nam trở lại bản chất con người."

Đây là một bài báo trên "New York Times" vào đầu tháng 7 năm 1972, khi quân đội miền Bắc Việt Nam vẫn giữ được những thành quả ban đầu từ cuộc tấn công mùa xuân năm 1972.

2.- Những nhà quan sát Mỹ khác cũng cảm thấy rằng tinh thần, ý chí kháng cự của Nam Việt Nam có lẽ là yếu tố chính yếu trong sự tồn tại của một Nam Việt Nam không Cộng sản. Đại sứ Ellsworth Bunker đã bày tỏ suy nghĩ này một cách hùng hồn tại Tòa Đại sứ vào cuối năm 1971. Ông đã dự đoán những thách thức lớn mà Nam Việt Nam sẽ phải đối mặt trong những năm tới, nhưng cảm thấy rằng với sự giúp đỡ hợp lý của Mỹ - cũng như miền Bắc chỉ có thể gây ra những thách thức liên tục với sự hỗ trợ lớn lao từ Liên Xô và Trung Quốc - chính phủ Nam Việt Nam mới có thể duy trì sự tồn tại quốc gia của mình.

3.- Trong những tuần gần đây, khi quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam, và khoảng 18 tháng sau thỏa thuận ngừng bắn, chính phủ Việt Nam vẫn phải tiếp tục chịu áp lực quân sự từ phía Cộng sản và những hậu quả phi chính trị nhưng cũng gặp phải khó khăn không kém từ các diễn biến kinh tế toàn cầu,
Các hệ thống truyền thông công khai và lén lút đều tràn ngập những báo cáo và suy đoán cho thấy sự diệt vong đang đến gần. Các cuộc biểu tình nhỏ, lẻ tẻ và rải rác chống lại Tổng thống Thiệu do các phe đối lập cực đoan tổ chức thường được viện dẫn như bằng chứng cho thấy chế độ Thiệu đang lung lay. mặc dù các cuộc biểu tình cho đến nay chưa thu hút được sự ủng hộ rộng rãi hay quy mô lớn và các nhóm biểu tình không đại diện cho bất kỳ mối đe dọa nào đối với chế độ Thiệu,
Chính sự xuất hiện của các cuộc biểu tình đã được viện dẫn để đưa đến kết luận có vẽ hợp lý nhưng sai lầm về mặt khách quan đối với một quốc gia nếu được cảnh sát kiểm soát chặt chẽ, những cuộc biểu tình như vậy sẽ không thể xảy ra. Do đó, nếu các cuộc biểu tình diễn ra, chúng phản ánh sự yếu kém của chế độ và sự lỏng lẽo trong kiểm soát.
Tuy nhiên dưới chế độ Thiệu, trên thực tế, các cuộc biểu tình chống chính phủ đã là một đặc điểm thường trực trong những năm ông cầm quyền; ví dụ, bởi các thương phế binh, liên quan đến việc ông tái đắc cử năm 1971, khi dự luật về quyền lực khẩn cấp được thông qua năm 1972, và vào thời điểm bầu cử Thượng viện năm 1973.
Thật vậy, bà Ngô Bá Thành, một trong những người biểu tình hiện nay, ban đầu bị bỏ tù vì tội coi thường tòa án phát sinh từ hành động của bà trên đường phố Sài Gòn năm 1971, và bà đã thường xuyên biểu tình trở lại kể từ khi được thả vào tháng 9 năm 1973.
Có thể nói câu viết mà các nhà báo sử dụng "sự đàn áp tàn bạo đối với mọi phe đối lập" chủ yếu chỉ xuất hiện trên báo chí, trong khi những người đối lập không cộng sản đã được hưởng các quyền tự do dân chủ.
4.- Những tin tức hiện tại, đặc biệt là trên báo chí, về sự bất ổn gia tăng trong dân chúng, về sự suy giảm niềm tin vào khả năng của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề của đất nước và tình trạng bất ổn về tâm lý và kinh tế nói chung chắc chắn có nền tảng thực tế.
Với mức độ nghiêm trọng của những khó khăn, sẽ là một điều kỳ diệu nếu điều này không đúng như vậy. Đồng thời, đối với những người có quyền truy cập vào các tài liệu tương tự trong quá khứ, dường như có một ấn tượng không thể phủ nhận về cảm giác "đã từng xảy ra". Ví dụ, vào ngày 5 tháng 1 năm 1972, nhắc lại năm 1972, tờ báo hàng ngày "Le Figaro" của Paris (không hề có thiện cảm với một Nam Việt Nam chống Cộng) đã đăng một loạt bài viết của Max Clos với tựa đề "Việt Nam không có người Mỹ".

Ông Clos bắt đầu bằng nhận xét rằng cảm nghĩ phổ biến ở Paris vào thời điểm đó là chính sách bình định đã thất bại, Việt Nam Hóa là một thảm họa và tình hình rất tuyệt vọng. Sau chuyến thăm Việt Nam, ông kết luận rằng mặc dù sự bi quan không hoàn toàn có cơ sở, quân đội Nam Việt Nam có những yếu điểm nghiêm trọng và không thể tồn tại nếu thiếu sự hỗ trợ không quân của Mỹ. "Một vấn đề quan trọng khác xuất phát từ một dân số kiệt sức chỉ ước muốn một điều duy nhất – mong muốn hòa bình trở lại nhanh chóng," ông viết.

5.- Sau khi mô tả những điểm mạnh của chế độ Thiệu, nhà báo Pháp đã bình luận về một số yếu điểm: "thật đáng ngạc nhiên khi đến Sài Gòn và gặp trong giới tư sản là những người công khai chỉ trích Tổng thống Thiệu. nhưng nhìn chung, họ đặc biệt chỉ trích ông ta là trở ngại cho hòa bình.

Theo họ, Mặt trận Giải phóng Quốc gia sẵn sàng cho hòa bình nhưng với điều kiện duy nhất là tướng Thiệu rút khỏi chính trường....
Dù thế nào đi nữa, sự phản đối này cũng không hiệu quả. Thiệu rõ ràng không có ý định về hưu.... ông ta đã có thể giành được sự ủng hộ ở những nơi khác..... Những người của phe đối lập, không thể tự tổ chức và không thể thống nhất về một nhà lãnh đạo, chỉ còn biết hy vọng rằng người Mỹ sẽ để ông ta từ chức... đó là một chủ đề được nghe đi nghe lại: ' Thiệu sẽ không bao giờ hoàn thành nhiệm kỳ bốn năm của mình.' Điểm yếu thứ hai xuất phát từ nền kinh tế đang ở trong tình trạng trì trệ. Thâm hụt ngân sách rất lớn. Viện trợ của Mỹ là một nhu cầu thiết yếu. năm 1971, khoản viện trợ này là 700 triệu đô la nhưng hiện đang bị đe dọa bởi thượng viện Mỹ. 'Giải pháp duy nhất,' ông Ngoc (Phạm Kim Ngọc), Tổng trưởng kinh tế quốc gia, nói, 'nằm ở chính sách Kiệm ước. sau khi đã Việt Nam Hóa chiến tranh, giờ đây cần thiết phải Việt Nam Hóa nền kinh tế.' Nhưng chính sách này gây ra một số vấn đề xã hội nghiêm trọng và do đó cũng là vấn đề chính trị...."
TĐS nhấn mạnh rằng đoạn trên được trích dẫn từ báo "Le Figaro" tại Paris, từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 1 năm 1972, và ông Clos có thể đã viết các bài báo của mình vào cuối năm 1971.
6.- Có thể nói rằng các vấn đề về tâm lý người Việt Nam và sự cân bằng tế nhị chi phối mối quan hệ giữa chế độ và người dân ở Việt Nam đơn giản là nằm ngoài tầm hiểu biết của các nhà quan sát nước ngoài, những người thường bị hạn chế bởi sự thiếu hiểu biết về lối sống của người Việt Nam, bản chất của văn hóa Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến hành vi cá nhân, cũng như sự thiếu hiểu biết về ngôn ngữ và thiếu kinh nghiệm thực tế.
Các báo cáo hiện nay từ Sài Gòn vẫn tiếp tục xuất phát từ cùng một giới trí thức ở Sài Gòn, những người đã được phóng viên người Pháp mô tả rất chính xác, và điều này có thể dễ dàng được chứng minh thông qua các mối liên hệ với người nước ngoài của họ. Trong bối cảnh một nền văn hóa mà việc xin xỏ là một lối sống được chấp nhận và thậm chí được tôn trọng, không một người Việt Nam có trách nhiệm nào lại từ chối cơ hội trình bày quan điểm của mình theo cách mà sự cần thiết của việc tiếp tục viện trợ nước ngoài không trở thành một kết luận hiển nhiên và cần thiết. Việc tiếp tục viện trợ cho miền Nam Việt Nam trên thực tế rất cần thiết, phần lớn là để đối phó với những gì phe cộng sản đang làm. Đối với các phóng viên, dù là của tư nhân hay chính phủ, việc chấp nhận một cách mù quáng những nhận xét cá nhân của người Việt Nam về các giải pháp cho những vấn đề phức tạp và phổ biến, đặc biệt là khi nói chuyện với người Mỹ, sẽ dẫn đến kết quả xấu. Trên thực tế, điều đó chưa bao giờ tốt và sẽ là một phép lạ nếu có một nền kinh tế thịnh vượng ở Việt Nam khi hầu hết các quốc gia tự do đều phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng phát sinh từ giá năng lượng cao, lạm phát liên tục tăng vọt đối với nguyên liệu thô và các vấn đề tín dụng.
Suy thoái kinh tế bắt đầu ở Việt Nam như một phản ứng tức thời đối với cuộc tấn công mùa xuân năm 1972 vẫn còn tiếp diễn.
Mặc dù lạm phát đã giảm từ mức 63% vào năm 1973 xuống còn khoảng 26% tính đến thời điểm hiện tại năm 1974, với giá cả ổn định trong gần mười tuần nay, thu nhập trên thực tế vẫn tiếp tục giảm, đặc biệt là của quân nhân và công chức, bất chấp việc tăng lương 25% vào tháng 6 năm 1974. Nói chung, một người lính hoặc công chức Việt Nam không thể nuôi sống gia đình bằng mức lương căn bản của mình, đây là nguồn gốc của nạn tham nhũng tràn lan và cũng là một thực tế hiển nhiên và dường như cần thiết đối với cá nhân nhìn từ góc độ mưu cầu hạnh phúc hoặc sự sinh tồn của chính họ.

8,- Cân nhắc những lưu ý đã nêu ở trên về động cơ của người Việt khi thảo luận về tình hình kinh tế với người Mỹ, thực tế là một số chỉ huy đơn vị đã nói với người Mỹ rằng sự lo lắng quá mức trong số binh lính của họ về vật chất của gia đình đã ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của cả quân đội chánh quy và lực lượng địa phương.
Việc mất tinh thần trong lực lượng chiến đấu QL/VNCH đã hoặc sẽ ảnh hưởng đến khả năng chống lại các hoạt động quân sự của Cộng sản vẫn chưa được chứng minh dựa trên kết quả cho đến nay.

Những cuộc giao chiến trong năm 1974 đến nay cho thấy cả yếu tố tích cực và tiêu cực trong hiệu quả của quân đội VNCH. Dù thế nào, kết quả chưa hẳn rõ ràng nghiêng về chiều hướng nào.           
Một yếu tố khác, cụ thể hơn về năng lực tác chiến của lực lượng chánh quy và lãnh thổ có thể đến từ những gì được cảm nhận như sự thiếu đạn dược, không yểm và thiếu hụt về tiếp vận do sự cắt giảm viện trợ Mỹ.           
Những tổn thất tác chiến cao hơn trong những tháng gần đây, mà cả sĩ quan và binh lính đều coi như là kết quả trực tiếp của việc giảm hỏa lực, không yểm chiến thuật, cắt giảm cung cấp trực thăng và các công tác cứu thương, chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy giảm tinh thần và ít nhất là sự miễn cưỡng chiến đấu hết mình cho bất kỳ mục tiêu nào ngoài những mục tiêu rõ ràng quan trọng hơn.

9.- Trong lĩnh vực công vụ, đã có báo cáo tinh thần phục vụ đã suy giảm đáng kể, một phần do các yếu tố kinh tế và một phần do những thay đổi và sự hoài nghi đối với "cuộc cách mạng hành chính" mà cựu Tổng trưởng Thông tin Hoàng Đức Nhã là người đề xướng. Việc Nguyễn Văn Ngân đã bị cách chức Phụ tá Đặc biệt của Tổng thống Thiệu phụ trách các vấn đề của đảng Dân chủ và những tín hiệu thay đổi của Tổng thống liên quan đến vai trò của đảng Dân chủ trong bộ máy hành chính cũng góp phần gây ra sự nhầm lẫn và làm giảm sút tinh thần làm việc. Do áp lực kinh tế, nhiều công chức chỉ làm việc nửa ngày ở cơ quan, sau đó làm thêm việc khác vào buổi chiều để kiếm thêm thu nhập.
Ý tưởng hợp lý của chính phủ về việc bỏ giờ nghỉ trưa hai tiếng để tiết kiệm năng lượng tiêu thụ cho việc di chuyển đi lại vào buổi trưa đã không thực hiện được như mong muốn. Công chức vẫn nghỉ trưa nhưng lại tan ca lúc bốn giờ chiều theo lịch làm việc mới.
             
10.- Bất chấp những đánh giá bi quan và một số yếu tố tiêu cực, không phải tất cả đều đã được nêu ở trên, các chức năng thiết yếu của chính phủ vẫn tiếp tục được thực hiện. Gạo và các loại thực phẩm khác vẫn được đưa ra thị trường. Xăng dầu vẫn dồi dào.         
Cảnh sát Quốc gia đã thành công trong công tác duy trì trật tự công cộng và kết quả của lực lượng an ninh đã giải tán các cuộc biểu tình tháng 9 và tháng 10 rất là xuất sắc, cả về hiệu quả lẫn kỷ luật. Không có sự gián đoạn nào đối với các dịch vụ công cộng căn bản. Không có cuộc đình công nào xảy ra. Thư tín vẫn được phát đều đặn, điều mà một số quốc gia phát triển hơn cũng không thể làm được. Trẻ em vẫn đến trường và các trường Trung học, Đại học, hầu hết là trường công lập, vẫn duy trì vai trò là trung tâm học tập chứ không phải là nơi gây rối.

11.- Chính phủ Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì cảm tình nghiêng hẳn về phía chính phủ đối với dân chúng. Mặc dù phe Cộng sản (được lặp lại trên nhiều phương tiện truyền thông Mỹ) cho rằng tinh thần của người dân Nam Việt Nam và các vấn đề kinh tế, xã hội tạo cơ hội cho phe Cộng sản để khai thác theo mục tiêu của họ, nhưng cho đến nay họ vẫn chưa thành công trong việc biến những khó khăn của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lợi thế của mình.

Các tài liệu của Chính phủ Việt Nam và các báo cáo đáng tin cậy khác phản ánh sự thất vọng của phe Cộng sản khi có rất ít người dân tự nguyện di chuyển ra khỏi các khu vực do Chính phủ Việt Nam kiểm soát sang các vùng lãnh thổ "được giải phóng", tức là do phe Cộng sản kiểm soát. Ngược lại, dòng người tị nạn chỉ tiếp tục theo một chiều duy nhất --- về phía chính phủ Việt Nam --- như đã được chứng minh một lần nữa trong những tháng gần đây tại Vùng 1 Chiến Thuật.
Tỷ lệ khủng bố của Việt Cộng gia tăng, đặc biệt các vụ bắt cóc, là một dấu hiệu cho thấy sự bất lực của những người Cộng sản Việt Nam trong việc thu hút bất cứ số lượng dân cư đáng kể nào vào vùng kiểm soát của họ ngoại trừ bằng biện pháp cưỡng bức.
Tương tự, không có thành công đáng kể nào của phe Cộng sản trong việc tuyên truyền tư tưởng chính trị trong các đơn vị chủ lực của quân đội VNCH, một nhiệm vụ tối quan trọng, ưu tiên hàng đầu đối với giới lãnh đạo CSBV. Tuy nhiên, trong các đơn vị địa phương đã có một số bị ảnh hưởng, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và các vùng cao nguyên thuộc V1CT và V2CT.     
12.- Về dân số nói chung, thực tế dường như chỉ có một cơ sở hạn chế để đánh giá tinh thần của người dân. Rõ ràng, người dân đã không nổi dậy chống lại chính phủ trong các cuộc biểu tình gần đây. Cũng rõ ràng là, đại đa số người dân vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật, cố gắng kiếm sống, đối phó với một thế giới khắc nghiệt và tận dụng tối đa những gì mình có. Họ thể hiện hàng ngày những đức tính tốt đẹp của người Việt Nam như chịu đưng gian khổ mà không than phiền, linh hoạt, tháo vát và khả năng phục hồi. Tỷ lệ dân số tăng 3% mỗi năm cho thấy về thể chất họ có sức khỏe tốt và có cái nhìn lạc quan về tương lai. Không chỉ có người nghèo và thiếu hiểu biết mới sinh con ở Việt Nam.
13.- Những lời tường thuật đầy lo lắng về tình trạng khủng khiếp ở Nam Việt Nam năm 1974 không được chứng minh bằng các cuộc thăm dò dư luận (hệ thống phân tích thái độ công chúng) hiện có.
Các cuộc thăm dò cho thấy dân chúng cho rằng tình hình kinh tế đang xấu, nhưng trong số những người được thăm dò họ cũng chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của chính phủ đã phục hồi đáng kể so với mức thấp được ghi nhận vào tháng 9 năm 1973 trong dân cư nông thôn và so với mức thấp được ghi nhận vào tháng 8 năm 1973 trong số dân cư thành thị,
Chắc chắn rằng đa số người dân thành thị (55%) và một tỷ lệ đáng kể người dân nông thôn (47%) vẫn không hài lòng với hiệu quả hoạt động của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Cuộc thăm dò phản ánh vấn đề thất nghiệp ngày càng gia tăng ở các thành phố, hậu quả của sự trì trệ của lãnh vực kỹ nghệ, nhưng mặc dù hầu hết người dân nông thôn và thành thị đều đồng ý về vấn đề lạm phát, chỉ có một phần trăm cho rằng tình hình kinh tế ở miền Nam Việt Nam tồi tệ hơn ở miền Bắc Việt Nam.

.14.- Khi được yêu cầu đánh giá hiệu quả phục vụ của các viên chức địa phương—từ xã đến tỉnh—những người có ý kiến hoàn toàn tiêu cực chiếm khoảng 10 phần trăm, trong đó xã trưởng là người bị chỉ trích nhiều nhất. Những người có ý kiến hoàn toàn tích cực đánh giá các xã trưởng cao nhất (66%) và các Tỉnh trưởng thấp nhất (39%).
Có một mô hình rõ ràng là mọi người thích những viên chức mà họ tiếp xúc trực tiếp nhất. So sánh hầu hết kết quả gần đây, cùng với xu hướng trong ba năm qua, cho thấy sự sụt giảm so với mức độ đánh giá cao nhất được ghi nhận vào tháng 6 năm 1973, nhưng có sự cải thiện đáng kể ở tất cả các hạng mục so với mức thấp nhất vào tháng 5 năm 1972.
Kết quả tương tự cũng được ghi nhận ở thành thị, với tỷ lệ những người hoàn toàn chỉ trích các quan chức dao động từ bảy phần trăm đối với thị trưởng, đến mười phần trăm đối với phường trưởng. Về khả năng đáp ứng của chính phủ, phần lớn người dân nông thôn (82%) và thành thị (79%) cảm thấy rằng chính phủ đáp ứng được nhu cầu của người dân. Chỉ có hai phần trăm người dân nông thôn và một phần trăm người dân thành thị không có ý kiến ​​về vấn đề này.

15.- Chính phủ nhận được đánh giá thấp hơn về vấn đề tham nhũng. Bảy mươi bốn phần trăm (74%) người dân nông thôn và 70% người dân thành thị cho rằng tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng. Sáu mươi tám phần trăm (68%) cho rằng tham nhũng đã trở nên tồi tệ hơn trong năm năm qua. Bảy mươi tám phần trăm (78%) người dân nông thôn cho rằng chính phủ đã có hành động chống tham nhũng, nhưng 90% trong số họ nghĩ rằng kết quả chỉ ở mức hạn chế hoặc không hiệu quả. Chín mươi phần trăm (90%) người dân thành thị trả lời rằng chính phủ đã có biện pháp chống tham nhũng, nhưng chỉ 13% hài lòng với kết quả đạt được. Năm mươi lăm (55%) phần trăm người dân nông thôn và 70% người dân thành thị muốn chính phủ đặt ưu tiên cao hơn cho việc chống tham nhũng.

16.- Mặc dù không thể rút ra kết luận từ những điều trên rằng người dân hoàn toàn hài lòng với chính phủ – thực tế, điều này có thể là quá sức mong đợi ở hầu hết mọi nơi và chắc chắn có thể được coi là một nỗ lực không thực tế ở miền Nam Việt Nam – thái độ chung của người dân, dữ liệu thống kê hiện có, và đặc biệt là kết quả của các cuộc bầu cử Thượng viện, hội đồng thành phố và làng xã, bao gồm cả tỷ lệ cử tri tham gia vào các nghĩa vụ công dân này trong năm 1973 và 1974, dường như cho thấy rằng không có sự xa lánh đáng kể nào giữa chính phủ Thiệu và người dân, ngay cả trong lĩnh vực kinh tế. Người dân vẫn chỉ trích chính phủ như họ vẫn thường làm, đặc biệt là ở những lĩnh vực mà hiệu quả hoạt động của chính phủ không đáp ứng được kỳ vọng của người dân, nhưng nhìn chung, một thái độ rất điềm tỉnh dường như đã được thể hiện, ngay cả khi xét đến những vấn đề vượt ra ngoài lợi ích trực tiếp của những người dân thường.           
Ví dụ, đa số người dân cho rằng việc chính phủ ký Hiệp định Paris là đúng đắn, mặc dù với tỷ lệ chênh lệch rất cao cho rằng lệnh ngừng bắn không hiệu quả.

Trong khi đa số rất lớn đổ lỗi chính cho Cộng sản về việc vi phạm lệnh ngừng bắn, 43% người dân nông thôn và 55% người dân thành thị vẫn cho rằng chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã được hưởng lợi nhiều hơn.   
Trong số những người trả lời ở nông thôn, 71% (dân thành thị 89%) kỳ vọng chính phủ Việt Nam Cộng hòa hiện tại sẽ vẫn nắm quyền sau một năm nữa, 2% (dân thành thị 0%) kỳ vọng Cộng sản sẽ giành được quyền lực, 11% (dân thành thị 7%) kỳ vọng một chính phủ quốc gia mới được bầu và 16% (dân thành thị 4%) không có ý kiến.
Rõ ràng, người dân Việt Nam không bày tỏ sự nghi ngờ về triển vọng của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, những nghi ngờ vốn thường được bày tỏ ở những nơi khác.

17.- Chúng ta kết thúc như khi bắt đầu, với nhận định rằng việc đánh giá tinh thần của một dân tộc nước ngoài là một công việc khó khăn và phức tạp, luôn tiềm ẩn nguy cơ người phỏng vấn bị đánh lừa bởi chính nhận thức chủ quan của mình về phản ứng của người dân, ngay cả khi những nhận thức này có thể không chính xác do các yếu tố văn hóa, truyền thống hoặc xã hội. Có thể xảy ra việc hiểu sai dữ liệu sẵn có, và thường thiếu nỗ lực để đặt những diễn biến hiện tại trong bối cảnh lịch sử.


18.- Mặc dù có nguy cơ vi phạm những lưu ý đã nêu ở trên, người ta vẫn tin rằng tinh thần của người dân miền Nam Việt Nam chịu ảnh hưởng từ cả yếu tố bên ngoài lẫn bên trong.
Rõ ràng, việc Tổng thống Thiệu phải bận tâm đến mối đe dọa quân sự sắp xảy ra đã ngăn cản ông dành sự chú ý cần thiết cho các vấn đề nội bộ ít cấp bách hơn, và điều này lại tạo ra sự thất vọng.
Cũng rõ ràng là, khi do các hành động của Quốc hội Hoa Kỳ, QL/VNCH hiện đã hoàn toàn "Việt Nam hóa" phải từ bỏ các chiến thuật mà họ đã được huấn luyện bởi Tướng Abrams, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả chiến đấu khi phản ứng trước các sáng kiến ​​chiến thuật của CSBV.

Việc chú trọng đến sự gọn ghẽ chỉ là đặc tính của những người giàu có. Người nghèo thích được béo mập hơn.  
Việc chuyển đổi QL/VNCH sang trạng thái tinh gọn có thể là xu hướng của tương lai và người dân miền Nam Việt Nam sẽ phải học những đức tính cần thiết tương tự như những gì đã giúp người dân miền Bắc Việt Nam tồn tại. Nhưng điều này sẽ không mang lại hạnh phúc hay tinh thần lạc quan ở miền Nam, như đã xảy ra ở miền Bắc.
Các hành động của Hoa Kỳ rõ ràng có tác động rất lớn ở Việt Nam, quốc gia vốn đã cảm thấy mình bị đối xử tệ bạc bởi cường quốc đồng minh duy nhất của mình – chắc chắn là bị đối xử tệ hơn nhiều so với những kẻ thù cũ như Tây Đức và Nhật Bản, hoặc những người bạn như Hàn Quốc và Đài Loan. Ví dụ, một phần nhỏ chi phí duy trì lực lượng Hoa Kỳ ở Đức gần ba mươi năm sau khi Thế Chiến Thứ hai kết thúc cũng đủ để giải quyết các vấn đề lớn của miền Nam Việt Nam.         
Người Việt Nam khó hiểu được quyết tâm của người Mỹ trong khi đã giúp đỡ Việt Nam bằng máu và hàng tỷ đô la, rồi giờ trong nội bộ lại tranh cãi về những khoản tiền tương đối nhỏ, trước khi miền Nam có thể tự đứng vững.

Những lo ngại và bất an này dẫn đến sự suy giảm tinh thần ở mọi tầng lớp dân chúng. Miền Nam Việt Nam cũng bị chấn động bởi sự sụp đổ chính trị ở Washington của một số người bạn nổi tiếng nhất của họ, nhất là Nixon và Agnew.
Về mặt chính trị, đặc biệt là tiến trình lập pháp ở Hoa Kỳ, ít người được hiểu rõ. Chắc chắn có những người trong giới trí thức Sài Gòn nghĩ rằng nếu người Mỹ có thể lật đổ Nixon, thì cũng có thể lật đổ Thiệu. "Lý luận" này dễ được chấp nhận hơn bởi những người tuy sai lầm nhưng vẫn luôn khẳng định, một cách nhất quán, rằng Tổng thống Thiệu là bù nhìn của Nixon.

19.- Giả sử rằng nền tảng tinh thần của miền Nam Việt Nam mong manh hơn trước đây, chúng ta vẫn đi đến kết luận rằng yếu tố tinh thần chưa tạo ra bất kỳ thế lực nào có thể can thiệp hữu hiệu để làm thay đổi hiến pháp của chính phủ miền Nam Việt Nam, hoặc vào cách thức tiến hành chiến tranh ở mức độ mà chính phủ cho là cần thiết.

Tất nhiên, có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến tương lai của chính phủ miền Nam Việt Nam, nhưng những yếu tố đó nằm ngoài phạm vi của bài viết này.

Comments

Popular posts from this blog

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn,vùng 3 chiến thuật, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ , Sư đoàn 5BB/QLVNCH, . thiếu tướng Lê Minh Đảo, Sư đoàn 18BB