NGOI  TRƯỞNG  HENRY KISSINGER  HP  BÁO  NGÀY 26  THÁNG  3  NĂM  1975

                                                                                         Thềm Sơn Hà



(The Department of State Bulletin, April 14, 1975)

Hỏi: Thưa ông, liên quan đến chính sách của Hoa Kỳ (HK) và những gì ông vừa nói là vào năm 1965, HK đã coi việc bảo vệ Nam Việt Nam ngang hàng với cam kết đối với Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO); bây giờ có vẻ như HK đang xem việc viện trợ bổ túc cho Nam Việt Nam ngang hàng với Trung Đông, v.v.

Ông có cảm thấy rằng trong năm năm qua, chính sách và đường lối ngoại giao mà chúng ta theo đuổi là sai không? Các điều kiện có sai không? Hay điều gì đã xảy ra?

Kissinger: Theo tôi hiểu, ông đang hỏi hai câu hỏi riêng biệt. Một là chính sách, mối quan hệ giữa Đông Dương và các khu vực khác trên thế giới; và câu hỏi thứ hai là liệu các chính sách theo đuổi trong năm năm qua có sai không.
Trước tiên, hãy để tôi nói-
Hỏi: Tôi không có ý nói "chính sách"; tôi muốn nói "chiến lược".
Kissinger: Vâng, đó là một sự phân biệt không có nhiều khác biệt.
Hỏi: Theo cách nào?     
Kissinger: Vâng, nếu chiến lược sai - tôi không thấy cách nào ông có thể có chiến lược đúng và chính sách sai - hoặc chiến lược sai và chính sách đúng. Vì vậy, hãy để tôi trả lời câu hỏi của ông.

Đối với Đông Dương, chúng tôi không xem tầm quan trọng của mỗi phần trên thế giới ngang nhau, và chúng tôi không nói rằng mọi phần trên thế giới đều có tầm quan trọng chiến lược như nhau đối với HK. 
Vấn đề mà chúng ta phải đối mặt ở Đông Dương ngày nay là một câu hỏi căn bản về con người của chúng ta.

Trong 15 năm, chúng ta đã tham gia khuyến khích người dân Việt Nam tự vệ trước những gì chúng ta coi là mối nguy hiểm từ bên ngoài.        
Năm 1973, chúng ta đã thương lượng đạt đến một thỏa thuận trong đó chúng ta rút lực lượng của mình và, để đổi lại, các tù nhân của chúng ta được thả.
Thỏa thuận này, giờ đây chúng ta có thể nhớ lại, trong khi đàm phán đã bị chỉ trích vì chúng ta đã kiên trì yêu cầu các điều khoản cương quyết hơn.
Thực tế là bây giờ chúng ta đã rút quân và đã đạt được việc thả tù nhân, không bao giờ có bất kỳ câu hỏi nào về việc Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam.     
Và điều chúng ta phải đối mặt bây giờ là liệu Hoa Kỳ - không chỉ "sẽ rút quân" như chúng ta đã đạt được - và không chỉ "'sẽ ngừng hoặc chấm dứt sự mất mát mạng sống của người Mỹ" - ​​mà còn liệu HK có cố tình hủy diệt một đồng minh bằng cách ngăn chặn viện trợ trong thời điểm cực kỳ nghiêm trọng của họ hay không?  
Đây là một câu hỏi căn bản về cách chúng ta được các dân tộc khác nhìn như thế nào, và nó không liên quan gì đến câu hỏi liệu chúng ta có nên can dự vào đó ngay từ đầu hay không.

Bây giờ, liên quan đến việc liệu các chính sách căn bản có đúng trong năm năm qua hay không, tất nhiên, đó là một câu hỏi khá bao quát và cần phải có một câu trả lời có thể chiếm phần lớn thời gian của cuộc họp báo này.

Đối với Đông Dương, tôi muốn khuyến khích mọi người xem lại báo chí và các cuộc tranh luận công khai trong thời gian đàm phán các thỏa thuận này để thấy được những yêu cầu mà Chính phủ phải đối mặt trong việc thương lượng các giải pháp. Và niềm tin chung là Hoa Kỳ đã làm đủ để bảo vệ sinh mạng của người Mỹ và rằng người dân Việt Nam nên có cơ hội tự vệ mà không cần sự hỗ trợ của Mỹ.

Không bao giờ có bất kỳ đề nghị nào rằng Hoa Kỳ nên rút lui và ngừng viện trợ. Và các thỏa thuận này được thương lượng thừa nhận rằng HK sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho miền Nam Việt Nam và cũng sẽ có khả năng thực thi các thỏa thuận này. Đây là vấn đề căn bản về chính sách tại Việt Nam.
Về các chính sách khác, tôi thích trả lời các câu hỏi cụ thể hơn.        
Hỏi: Thưa Ngoại trưởng, nếu tôi được phép tiếp tục câu hỏi đó, thì có vẻ như Quốc hội, ít nhất, đã cảm thấy rằng học thuyết Nixon đã lỗi thời và rằng bây giờ sẽ       không có nguồn tiếp liệu nào sẽ được cung cấp như đã được cam kết bởi HK trong quá khứ.   
Ông có định đánh giá lại các giải pháp thay thế sau khi học thuyết Nixon sụp đổ không, đặc biệt là liên quan đến Việt Nam, Campuchia và Thái Lan?

Kissinger: Chúng ta phải đối mặt với thực tế là có nhiều quốc gia trên thế giới không có cơ hội nào để tự vệ nếu không có sự hỗ trợ kinh tế hoặc quân sự của HK. Và do đó, nếu chính sách quốc gia của chúng ta đặt tiêu chuẩn  là các quốc gia phải có thể hoàn toàn dựa vào nguồn lực của mình tại một thời điểm nào đó, thì chúng ta sẽ tạo ra một sự thay đổi lớn trong môi trường quốc tế, theo thời gian sẽ đe dọa đến an ninh căn bản của Hoa Kỳ cũng như an ninh của nhiều quốc gia thân hữu của chúng ta.        
Cái được gọi là học thuyết Nixon dựa trên giả định rằng HK sẽ giúp đỡ những quốc gia nào sẵn sàng tự giúp mình. Nếu điều này không còn đúng nữa, thì chúng ta có thể thấy một sự thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia và một mối đe dọa căn bản trong một khoảng thời gian đối với an ninh của HK, 
và một mối đe dọa chủ yếu theo thời gian đối với an ninh của HK.

Hỏi: Thưa Ngoại trưởng, tiếp tục câu hỏi về mối liên hệ giữa một phần của Đông Dương và các khu vực khác trên thế giới, Chính quyền sẽ làm gì từ đây? Rõ ràng là chánh phủ đang ở trong tình trạng mâu thuẫn với Quốc hội về câu hỏi căn bản này. Chính sách của HK, theo như Chính quyền, dường như đang bị tê liệt về mặt ngoại giao ở Đông Dương. Liệu có cách nào vượt qua rào cản này ngoài việc liên tục đối đầu trực tiếp với Quốc hội?
Kissinger: Tôi không đồng ý rằng chính sách của HK bị bất động về vấn đề Đông Dương.
Có một sự bất đồng về khía cạnh triết lý mà tôi đã cố gắng giải thích trước đó.     
Kể từ khi đến Washington nhận nhiệm vụ, tôi đã tin rằng vì lợi ích quốc gia chúng ta nên gác lại cuộc tranh luận về Đông Dương.      
Chính quyền đã đề nghị với Quốc hội một chương trình ba năm để loại bỏ dần viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam, nếu Quốc hội và Chính quyền có thể đồng ý, sẽ bỏ ra ngoài vấn đề này khỏi các cuộc tranh luận  hàng năm giữa Quốc hội và Hành pháp.

Như tôi đã nêu ra, tôi tin rằng chúng ta đang phải đối mặt với một tình huống nghiêm trọng. Chính quyền không thể từ bỏ niềm tin của mình chỉ vì một sự thỏa hiệp về mặt kỹ thuật. Nhưng chúng tôi tin rằng chương trình ba năm này, với mức độ viện trợ phù hợp, có thể mang đến một cơ hội để khép lại cuộc tranh luận.
Hỏi: Liệu điều này có phản ánh những gì Tiến sĩ Schlesinger [Bộ trưởng Quốc phòng James R. Schlesinger] đã mô tả là nhận thức toàn cầu về sự bất lực của Hoa Kỳ không?
Kissinger: Tôi đã nêu ra tại nhiều cuộc họp báo trong nhiều năm qua rằng thẩm quyền trung ương của một cường quốc dưới sự tấn công một cách liên tục sau cùng cũng phải trả giá bằng chính sách đối ngoại.

Chúng ta đã trải qua kinh nghiệm ở Việt Nam, đã trải qua nỗi đau của Watergate.

Và tôi nghĩ rằng tác động chồng chất của gần mười năm bất ổn trong nước đang bắt đầu mang đến hậu quả—chúng ta phải trả cái giá đó.

Các chính phủ nước ngoài, khi họ quan hệ với HK, họ luôn đánh cược trong các giao dịch của họ vào sự kiên trì của chính sách HK và vào khả năng của HK trong việc thực hiện bất cứ điều gì chúng ta hứa, hoặc thất hứa, hoặc đe dọa.

Và đây là một trong những vấn đề lớn trong chính sách đối ngoại ngày nay.

Hỏi: Thưa ông Bộ trưởng, dường như một phần của cuộc tranh luận quốc gia về Việt Nam là do cái mà có thể gọi là triệu chứng ánh sáng ở cuối đường hầm. Và bây giờ ông đang gợi ý rằng có thể với ba năm viện trợ nữa, vấn đề Đông Dương có thể được giải quyết một cách thỏa đáng hơn. Phải chăng đây chỉ là một cách khác để mua thêm một khoảng thời gian nữa?

Kissinger: Vâng, thưa ông Koppel [Ted Koppel, ABC News], quan điểm cá nhân của tôi, rõ ràng và chắc chắn, là cách thức đúng đắn để cung cấp viện trợ là bỏ phiếu hàng năm cho những gì cần thiết. Có một số vấn đề trên thế giới chỉ đơn giản là không có ngày kết thúc. Và ở Đông Dương, khi mà Bắc Việt vẫn còn quyết tâm tấn công, thì không có trách nhiệm gì khi nói rằng có một thời điểm chắc chắn để đạt được mục tiêu.

Mặt khác, với những phản ứng cứng rắn trong Quốc hội, với những tác động thảm khốc, hoặc rất nguy hiểm, đối với vị thế của HK trên thế giới, về việc xóa bỏ một đất nước mà chúng ta đã mất 50.000 người, là nơi chúng ta đã chiến đấu trong 10 năm, và chúng ta, với tư cách là một quốc gia, đã can dự vào cuộc chiến này - chúng tôi chuẩn bị đi theo một chương trình ba năm, trong đó, với sự viện trợ đầy đủ, chúng tôi tin rằng ít nhất có một cơ hội mà sau đó, với sự phát triển của các nguồn tài nguyên dầu mỏ và các yếu tố khác, đất nước này có thể tiếp tục tự duy trì  mà không cần sự yểm trợ từ bên ngoài.

Đó là đề nghị của chúng tôi, để đưa Việt Nam ra khỏi cuộc tranh luận nội bộ trong giai đoạn này và để tránh điều mà chúng tôi nghĩ sẽ là một đòn giáng rất nặng nề đối với HK.

Hỏi: Trong khi chúng ta giao dịch với mọi quốc gia Cộng sản trên thế giới ngoại trừ Cuba ngày nay, tại sao chúng ta, theo lời của ông, lại "hủy diệt" Nam Việt Nam nếu nó trở thành Cộng sản?

Kissinger: Vâng, theo lý thuyết đó, chúng ta có thể từ bỏ mọi liên minh của mình, vì chúng ta sẽ không hủy hoại bất kỳ đồng minh nào nếu nó bị một nước Cộng sản xâm chiếm. Vấn đề không phải là chúng ta không đối phó với các nước Cộng sản. Vấn đề là các quốc gia rõ ràng ước muốn tự vệ bị ngăn cản tự vệ do quyết định cắt giảm nguồn viện trợ của Hoa Kỳ.    
Và do đó, chúng ta sẽ hủy diệt những người đã chống cự, những người mà chúng ta đã khuyến khích chống cự, bằng một hành động như vậy.

Bây giờ, tôi nghĩ cũng nên nêu ra điểm đáng lưu ý là, sau cùng, làn sóng người tị nạn ở Việt Nam đang rời khỏi khu vực kiểm soát của Cộng sản. Và ngay cả ở Campuchia, trong những điều kiện mà người ta phải nói là vô cùng nản lòng, vẫn có người đang chiến đấu xung quanh Phnom Penh.

Vì vậy, chúng ta ở đây trong một tình thế mà Hoa Kỳ đang buộc một dân tộc phải đầu hàng bằng cách cắt giảm nguồn viện trợ.

                              HU QU CA VIC CT B VIN TR

Hỏi: Thưa ông Ngoại trưởng, tôi muốn tiếp nối câu hỏi về "ánh sáng ở cuối đường hầm" mà ông Koppel đã nêu ra ở đây trước đó. Dường như câu trả lời của ông cho câu hỏi đó thực sự là ông đã, với một chương trình ba năm tại Nam Việt Nam, thấy một ánh sáng khác ở cuối đường hầm đó. Và tôi nghĩ câu hỏi thực sự liên quan ở đây là liệu chính quyền có nhận thức đúng về thực tế hay không.

Tôi nghĩ ông đang gặp vấn đề với công chúng ở quốc gia này. Chúng ta đã cống hiến 50.000 người. Chúng ta đã bỏ ra 150 tỷ đô la. Và điều đó đã không cứu được Nam Việt Nam.

Bây giờ ông đang yêu cầu mọi người tin rằng nếu ông ông nhận được viện trợ thêm ba năm nữa, ông, Henry Kissinger, có tin rằng điều đó có thể cứu được miền Nam? Bây giờ, tôi muốn biết liệu điều đó có phải là ông đang nói với mọi người rằng ông nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm không?       
Kissinger: Tôi đang nói rằng nếu các ông không cung cấp đủ, thì các ông sẽ gây ra những hậu quả rất giống với những gì chúng ta đang thấy hiện nay.

Kể từ tháng 5 năm ngoái, Nam Việt Nam chỉ nhận được đạn dược và nhiên liệu. Họ gần như không nhận được phụ tùng thay thế và chiến cụ hiện đại nào. Dưới những điều kiện đó, sự suy thoái tinh thần của quân đội là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, một số hậu quả mà chúng ta đang thấy bây giờ không có gì đáng ngạc nhiên.

Tôi đang nói rằng, với tư cách là một dân tộc, chúng ta không nên hủy diệt các đồng minh của mình và rằng, một khi chúng ta bắt đầu đi theo hướng đó, nó sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho chúng ta trên thế giới.
Tôi đã tuyên bố rằng sẽ tốt hơn nếu chúng ta thực hiện điều đó trên căn bản hàng năm. Trước những chia rẽ to lớn đã nảy sinh ở đất nước này, và với mục đích muốn tránh những chia rẽ này, chúng tôi đã chuẩn bị đi theo con đường khác.

Đây không phải là sự lựa chọn đầu tiên của chúng tôi. Con đường tốt hơn là thực hiện nó bằng cách xác định nhu cầu cần thiết cho mỗi năm. Và trong bản chất của mọi việc, có nhiều tình huống trên thế giới mà sự cần thiết của sự giúp đỡ phụ thuộc vào mức độ áp lực từ bên ngoài.
Và nếu chúng ta không thể kiểm soát được áp lực bên ngoài, thì việc chúng ta cắt đứt viện trợ có nghĩa là đem những quốc gia này giao cho kẻ thù của họ.

 

                            VIN TR CHO VIT NAM SAU HIP ĐỊNH HÒA BÌNH

Hỏi: Thưa Ngoại trưởng, trước đây ông đã nói rằng vào năm 1973, khi hiệp định hòa bình Việt Nam được đàm phán, không có nghi ngờ gì về việc tiếp tục hỗ trợ quân sự và kinh tế của Mỹ. Vào thời điểm đó, vào năm 73, ông có bảo đảm gì rằng Quốc hội sẽ tiếp tục sự hỗ trợ này không?       

Kissinger: Chúng tôi không có bất kỳ bảo đảm nào. Nếu bây giờ ông xem lại bản chất của cuộc tranh luận nội bộ của chúng ta - ví dụ, từ 1969 đến 1973 - thì quan điểm chủ yếu là sự tham gia của HK vào Việt Nam phải chấm dứt nhưng người Việt Nam phải được trao cơ hội để tự vệ; và toàn bộ áp lực của cuộc tranh luận nội bộ là về việc rút quân - ít nhất, theo những gì tôi nhận thức được - là về việc rút quân của HK.

Chúng tôi đã tuyên bố, vào ngày ký kết hiệp định, nếu ông đọc cuộc họp báo của tôi vào ngày đó, rằng viện trợ kinh tế và quân sự sẽ tiếp tục. Và không có điều gì trong số này đã từng bị phản đối vào năm 73 và 74.

 Trên thực tế, cuộc tranh luận bắt đầu vào năm nay về việc chuẩn chi một khoản tiền đã được Quốc hội phê duyệt; vì vậy, không thể nào liên quan đến vấn đề về nguyên tắc, bởi vì việc cho phép đã được phê duyệt vào năm ngoái với rất ít sự chia rẽ. Không có sự đảm bảo nào, nhưng đối với chúng tôi, có vẻ như trong toàn bộ lập trường mà chúng tôi đã đưa ra, điều này sẽ tiếp tục.

Hỏi: Nếu tôi có thể biết rõ vấn đề, thì vào thời điểm đó, ông có đưa ra lời đảm bảo với Chính phủ Nam Việt Nam rằng khoản viện trợ này sẽ tiếp tục không?

Kissinger: Chúng tôi đã nói với Chính phủ Nam Việt Nam - không phải là cam kết của Hoa Kỳ rằng viện trợ sẽ tiếp tục - mà là, theo suy xét của chúng tôi, nếu Nam Việt Nam hợp tác trong việc cho phép chúng tôi rút quân và mang tù binh của chúng tôi về nước, thì theo chúng tôi nghĩ, Quốc hội sau đó sẽ bỏ phiếu cho khoản viện trợ cần thiết để duy trì Việt Nam về mặt kinh tế và quân sự.
Khoản viện trợ này không được xem như là cam kết của Hoa Kỳ.

Chúng tôi không nói ở đây cam kết về pháp lý của Hoa Kỳ; chúng tôi đang nói ở đây cam kết về mặt đạo đức.

Comments

Popular posts from this blog

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn,vùng 3 chiến thuật, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ , Sư đoàn 5BB/QLVNCH, . thiếu tướng Lê Minh Đảo, Sư đoàn 18BB

hòn sơn rái, hòn rái, hòn lại sơn, tamassou, nam du, rạch giá, phú quốc