phỏng vấn Tổng thống Ford, Walter Cronkite, Eric Sevareid và Bob Schieffer, CBS, nguyễn vân thiệu, di tản, rút lui khỏi vùng 1, 2, 3 chiến thuật
PHỎNG VẤN TỔNG THỐNG GERALD FORD SAU KHI TỔNG THỐNG THIỆU TỪ CHỨC NGÀY 21 THÁNG 4 NĂM 1975
Sau đây là nguyên văn từ những trích đoạn trong cuộc phỏng vấn với Tổng thống Ford của Walter Cronkite, Eric Sevareid và Bob Schieffer trên đài truyền hình và đài phát thanh CBS vào ngày 21 tháng 4 ngay sau khi Tổng thống Thiệu từ chức.
Tác
giả trích dịch ba phần trong cuộc Phỏng vấn: Tổng quát_Di tản khỏi Việt Nam_
Các yếu tố góp phần vào sự rút lui của Việt Nam Cộng Hòa_ Quyết
định chính sách đối ngoại.
__________________________________________________________________
Cronkite: Thưa Tổng thống, ngay lúc này khi chúng ta lên sóng, tôi rất ngạc nhiên khi nghe thông tấn xã Associated Press (AP) và United Press International (UPI) đang loan tin từ Honolulu rằng nhiều binh sĩ Thủy quân Lục chiến (TQLC) được trang bị đầy đủ, khoảng 800 người, đã rời Hawaii bằng đường hàng không, trên các máy bay thuê. Ông có thể cho chúng tôi biết họ sẽ được đưa đến đâu và tình hình hiện tại như thế nào không?
Tổng
thống Ford: Đó là một phần của sự điều động nhằm tăng cường sức mạnh của TQLC ở khu vực Thái Bình
Dương. Đây không phải là sự
điều động quân sự bất thường. Mặt khác, trong hoàn cảnh này,
chúng tôi cảm thấy rằng việc đưa TQLC đến Nam Thái Bình Dương để biểu dương lực lượng là điều khôn
ngoan.
Cronkite:
Ông có thể cho chúng tôi biết họ sẽ đi đâu không, thưa ông?
Tổng
thống Ford: Tôi không nghĩ tôi nên nói rõ hơn thế.
Cronkite:
Họ không đi thẳng đến Sài Gòn?
Tổng
thống Ford: Không, họ không đi.
Cronkite:
Bây giờ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của Nam Việt Nam đã từ chức, dĩ nhiên đó là
tin tức hàng đầu
sáng nay, chúng ta có can dự, chúng ta có đóng vai trò trung gian trong bất kỳ
cuộc đàm phán nào cho một giải pháp hòa bình không?
Tổng
thống Ford: Chúng tôi đang thăm dò với một số chính phủ về các cơ hội
đàm phán, nhưng với tình hình thay đổi rất nhanh chóng này, với việc Tổng thống
Thiệu từ chức, thực sự không có cơ hội nào để chúng tôi liên lạc với chính phủ
mới. Và kết quả cuối cùng là chúng
tôi đang có kế hoạch thăm dò cùng họ và các chính phủ khác trong khu vực đó hoặc
có liên quan đến khu vực đó để chúng tôi không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào nhằm cố
gắng đạt được lệnh ngừng bắn.
Sevareid:
Thưa Tổng thống, ông lượng định thế nào về tình hình hiện tại? Ông có nghĩ rằng
Hà Nội muốn đàm phán để chuyển giao thành phố, chuyển giao một cách hòa bình,
hay chỉ tiến về phía trước?
Tổng
thống Ford: Eric, ước gì tôi biết được. Tôi không nghĩ có bất cứ ai có thể
hoàn toàn chắc chắn, ngoại trừ chính Bắc Việt.
Trong vài ngày qua, họ rất muốn nhanh chóng tiếp quản.
Mặt khác, trong vòng 12, 24 giờ qua, hình như đang chậm lại. Chúng tôi không chắc
chắn về chiến thuật của họ sẽ như thế nào. Tất nhiên, chúng tôi hy vọng rằng sẽ
có một giai đoạn khi giao tranh chấm dứt hoặc hoạt động quân sự trở nên bớt
căng thẳng hơn để có thể tiến hành đàm phán hoặc thậm chí là đạt được lệnh ngừng
bắn. Nhưng hiện tại, tình hình chưa ổn định, nên tôi không nghĩ rằng bất kỳ ai
có thể chắc chắn rằng Bắc Việt sẽ làm gì.
Sevareid:
Họ có liên lạc với chính phủ của chúng ta
thông qua bên thứ ba hay không?
Tổng
thống Ford: Chúng tôi có liên lạc với các chính phủ khác. Tôi
không thể cho anh biết liệu Bắc Việt có liên lạc với họ hay không. Tôi không biết.
Sevareid:
Tổng thống Thiệu khi
từ chức, đã nói rằng một trong những lý do là do áp lực của Mỹ. Vai trò của
chúng ta
trong việc ông ấy từ chức ra
sao?
Tổng
thống Ford: Chính phủ Mỹ
không đưa ra yêu cầu trực tiếp nào để Tổng thống Thiệu từ chức. Không có áp lực
nào từ tôi hay bất kỳ ai ở Washington về vấn đề này.
Có thể có một số người ở Sài Gòn đã nói chuyện với Tổng
thống Thiệu, nhưng không có áp lực nào từ Washington buộc Tổng thống Thiệu phải
từ chức và tôi chắc chắn rằng ông ấy đã tự đưa ra quyết định cuối cùng.
Sevateid:
Chắc chắn những người đại diện của chúng ta ở đó sẽ không
nói nếu không có thẩm quyền của ông về vấn đề này?
Tổng
thống Ford: Vấn đề là cách ông diễn đạt. Chúng tôi chưa bao giờ
chỉ thị bất kỳ ai yêu cầu ông ấy từ chức.
Đã có những cuộc thảo luận về việc ông ấy có nên hay không nên từ chức, nhưng không có yêu cầu
trực tiếp nào từ tôi yêu cầu ông ấy từ bỏ vai trò là người lãnh đạo quốc gia.
Suy cho cùng, ông ấy là một Tổng thống được bầu. Ông
ấy là người đứng đầu chính phủ đó, được lựa chọn hợp pháp, vì vậy quyết định của ông ấy,
theo như chúng ta biết, hoàn toàn do ông ấy tự đưa ra.
DI TẢN KHỎI VIỆT NAM
Schieffer:
Thưa Tổng thống, về cuộc di tản, ông đã bày tỏ hy vọng rằng có thể sắp xếp được
điều gì đó để hàng chục ngàn người Nam Việt Nam trung thành có thể được mang ra
khỏi nước.
Ông có nghĩ rằng việc này có thể thực hiện nếu Bắc
Việt phản đối hoặc nếu Việt Cộng không muốn tham gia? Hiện tại có bất kỳ cuộc
đàm phán nào đang diễn ra để cố gắng thiết lập một vài sự dàn xếp như vậy
không?
Tổng
thống Ford: Tôi đồng ý với anh là nếu Bắc Việt thực hiện hoạt
động quân sự, thì hầu như không thể thực hiện được trừ khi chúng ta đưa một số
lượng đáng kể binh sĩ Hoa Kỳ vào để bảo vệ cuộc di tản.
Mặt khác, nếu người dân miền Nam gây khó khăn vì họ thất vọng về sự yểm trợ của
chúng ta không nhiều như họ nghĩ, cũng sẽ khiến điều đó hầu như không thể, nếu
không có sự cam kết quân sự đáng kể của Hoa Kỳ.
Đó là một lý do tại sao chúng tôi muốn ngừng bắn. Đó
là lý do tại sao chúng tôi muốn ngưng hoạt động quân sự - để chúng tôi chắc chắn
có thể đưa tất cả người Mỹ ra ngoài mà không gặp bất kỳ rắc rối nào và hy vọng
là cả những người Nam Việt Nam mà chúng tôi cảm thấy có nghĩa vụ đặc biệt.
Nhưng hiện tại, có vẻ như điều đó là không thể.
Chúng tôi dự định sẽ tiếp tục tìm phương cách vì chúng tôi cảm thấy đó là điều
nhân đạo và đáng làm.
Schieffer:
Nếu không thể làm được thì sao? Như vậy ông sẽ làm gì? Ông có yêu cầu Quốc hội
cho phép ông gửi quân đội Mỹ vào đó để bảo vệ cuộc rút quân không?
Ông có gửi họ vào mà không có sự chấp thuận của Quốc
hội không? Ông sẽ làm gì tiếp theo?
Tổng
thống Ford: Như ông biết, tôi đã yêu cầu Quốc hội xác định thẩm
quyền của tôi với tư cách là Tổng thống để gửi quân đội Mỹ vào để tiến hành di
tản những người Nam Việt Nam thân thiết hoặc những người Nam Việt Nam mà chúng
ta có bổn phận, hoặc ít nhất tôi nghĩ là chúng ta phải làm. Không có vấn đề gì
khi gửi quân nhân Hoa Kỳ vào Nam Việt Nam để di tản người Mỹ. Điều đó được phép
theo Đạo luật Quyền hạn Chiến tranh, với điều kiện chúng tôi phải thông báo trước
cho Quốc hội.
Đó là những gì chúng tôi đã làm trong trường hợp
Phnom Penh, để di tản nhân viên của chúng tôi ở đó. Nhưng nếu chúng tôi sẽ có một
cuộc di tản số đông người Nam Việt Nam, tôi nghĩ Quốc hội nên làm rõ luật và
trao cho tôi thẩm quyền cụ thể.
Họ sẽ làm hay không, tôi không thể nói với anh tại thời điểm này.
Schieffer:
Nếu ông trình lên và nếu Quốc hội trao cho ông thẩm quyền, họ sẽ phải chấp thuận
cho ông sử dụng không quân. Điều này phải là một cam kết quan trọng. Sẽ gần như
phải có một sự ủy quyền không giới hạn để bảo vệ bản thân họ. Đó là những gì ông
đang yêu cầu, phải không?
Tổng
thống Ford: Trừ khi miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam đồng
ý ngừng bắn, việc di tản những người miền Nam Việt Nam có thể được thực hiện rất
dễ dàng. Bây giờ, nếu vẫn còn một cuộc xung đột quân sự đang diễn ra, hoặc nếu
một trong hai bên tỏ ra không hài lòng về điều này, và nếu chúng ta quyết định
thực hiện nó - có một số "nếu" trong đó - thì đúng, sẽ phải có sự
tham gia của quân đội Mỹ với một quân số khá cao - trong một khoảng thời gian
ngắn - rất chính xác, không phải trên quy mô rộng lớn, tất nhiên.
CÁC YẾU TỐ GÓP PHẦN VÀO SỰ RÚT LUI CỦA VNCH
Cronkite:
Thưa Tổng thống, lần cuối cùng ông nói chuyện với Tổng thống Thiệu là khi nào?
Tổng
thống Ford: Tôi chưa từng đích thân nói chuyện với Tổng thống
Thiệu kể từ khi tôi trở thành Tổng thống. Tôi đã có một số lần trao đổi thư từ
với ông ấy, nhưng lần cuối cùng tôi nói chuyện với ông ấy là khi ông ấy ở Hoa Kỳ
và tôi là lãnh đạo phe thiểu số. (Lời
người dịch: ý ông muốn nói là lúc bấy
giờ ông là lãnh đạo phe thiểu số thuộc đảng Cộng hòa trong Hạ nghị viện)
Theo như tôi nhớ thì đó là khoảng hai năm trước.
Cronkite:
Thật lạ, chúng ta có đường dây nóng với đối thủ tiềm tàng là cường quốc Nga Xô,
nhưng với một đồng minh đang trong tình thế khốn khó vào lúc này, lại không có
sự liên lạc nào giữa hai Tổng thống. Có vẻ lạ.
Tổng
thống Ford: Vâng, có sự liên lạc rất tốt giữa tôi, Bộ trưởng
Ngoại giao và Đại sứ của chúng ta ở đó.
Vì vậy, không thiếu sự liên lạc trong nội bộ và
thông qua các phương tiện thích hợp. Tôi không nghĩ rằng trong tình huống này,
việc liên lạc trực tiếp giữa tôi và cựu Tổng thống Thiệu là điều cần thiết.
Cronkite: Liệu có thể giải quyết được
một số hiểu lầm nếu ông nói chuyện trực tiếp với ông ấy?
Tổng
thống Ford: Tôi không nghĩ vậy. Chúng tôi đã trao đổi qua lại,
cả bằng tin nhắn và thư từ.
Tôi nghĩ chúng tôi hiểu nhau. Tôi nghĩ một số bình
luận của ông ấy hướng đến chính phủ của chúng ta nói chung hơn là hướng đến cá
nhân tôi.
Sevareid:
Thưa Tổng thống, một trong những phê bình của ông ấy là Hoa Kỳ đã đưa người dân
Miền Nam đến cái chết.
Ông có câu trả lời cụ thể nào cho lời cáo buộc đó không?
Tổng
thống Ford: Có một số cam kết công khai và riêng tư được trao
đổi vào năm 1972-1973, trong đó tôi nghĩ rằng Tổng thống VNCH có thể đã đi đến
kết luận, như ông đã làm, rằng Chính phủ Hoa Kỳ sẽ làm hai điều:
- Một là, thay thế trang bị quân cụ trên căn bản một đổi một, để ông duy trì sức
mạnh quân sự của mình ở mức đủ cao có thể đáp ứng bất kỳ thách thức nào của miền
Bắc.
- Hai là chúng ta, với tư cách là một quốc gia, sẽ cố gắng thực thi các thỏa
thuận đã được ký kết tại Paris vào tháng 1 năm 1973.
Bây giờ, thật không may, Quốc hội vào tháng 8 năm
1973 đã xóa bỏ cam kết thứ hai, tước đi của Tổng thống quyền sử dụng sức mạnh
quân sự để thực thi các thỏa thuận đã được ký kết tại Paris.
Vì vậy, từ lúc đó chúng ta chỉ còn lại cam kết thứ
nhất, và thật không may là việc thay thế trang bị quân cụ đã không được thực hiện.
Do đó, tôi có thể hiểu được sự thất vọng của Tổng thống
Thiệu trong thời khắc với nhiều khó khăn mà ông đã trải qua trong tuần vừa rồi.
Tôi có thể hiểu những lời phê bình của ông ấy.
Sevareid: Trước tiên, ông đánh giá
thế nào về câu hỏi chúng ta đã gửi hay không gửi bao nhiêu viện trợ, và việc Tổng
thống Thiệu sử dụng số viện trợ đó, đặc biệt là trong đợt rút quân này? Sai lầm
lớn hơn ở đâu? Bởi vì về mặt lịch sử điều này cực kỳ quan trọng.
Tổng
thống Ford: Theo phán đoán của tôi—và lịch sử có lẽ sẽ chính
xác hơn —nhưng theo phán đoán của tôi tại thời điểm này việc Quốc hội không chuẩn
chi khoản viện trợ quân sự đã được yêu cầu - Chính quyền Nixon đã yêu cầu 1,4 tỷ
đô la cho tài khóa này; Quốc hội phê chuẩn 1 tỷ đô la; tuy nhiên Quốc hội chỉ chuẩn
chi 700 triệu đô la - và việc không cam kết cho tài khóa này một khoản gần với
số tiền đã yêu cầu chắc chắn đã làm dấy lên sự nghi ngờ trong tâm trí của Tổng
thống Thiệu và quân đội của ông đối với cam kết là chúng ta sẽ cung cấp đủ vũ
khí quân sự để họ có thể bảo vệ một cách tương xứng các vị trí của họ ở Nam Việt Nam.
Bây giờ, việc thiếu sự yểm trợ chắc chắn đã tác động
đến quyết định rút quân đột ngột của Tổng thống Thiệu. Tôi không nghĩ ông ấy sẽ
rút quân nếu có sự yểm trợ. Không có sự yểm trợ, ông ấy đã quyết định rút quân.
Thật không may, việc rút quân đã được thực hiện một
cách vội vã, không được chuẩn bị đầy đủ và hậu quả đã trở thành một cuộc rút
quân hỗn loạn của các lực lượng từ các vùng chiến thuật 1, 2 và 3.
Anh đổ lỗi như thế nào, tỷ lệ phần trăm nào về việc chúng ta không
cung cấp vũ khí, tỷ lệ nào liên quan đến cuộc rút quân vội vã và không được chuẩn
bị đầy đủ - các chuyên gia, sau khi nghiên cứu hồ sơ, có lẽ có thể đánh giá tốt
hơn; nhưng động thái ban đầu của cuộc rút quân xuất phát từ việc chính phủ của
chúng ta không hỗ trợ đầy đủ cho yêu cầu giúp đỡ của quân đội VNCH.
Schieffer:
Thưa Tổng thống, điều tôi không hiểu là, nếu họ nói rằng chúng tôi phải rút
quân vì Hoa Kỳ sẽ không cung cấp cho chúng tôi thêm quân cụ, tại sao họ lại để
lại tất cả các quân cụ mà họ có ở đó? Tại sao họ lại bỏ lại nhiều như vậy?
Tổng
thống Ford: Như tôi đã nói, cuộc
rút lui được soạn thảo rất kém và được quyết định vội vàng. Tôi
không phải là lính Bộ binh. Tôi từng ở Hải quân. Nhưng tôi
đã nói chuyện với rất nhiều chuyên gia của Lục quân và Thủy quân Lục chiến, và
họ nói với tôi rằng điều động một cuộc rút lui, rút quân, là khó thực hiện nhất,
và quyết định này của Tổng thống Thiệu được đưa ra vội vàng mà không có sự chuẩn
bị đầy đủ, và trên thực tế đã trở thành một cuộc tháo chạy.
Khi
người lính đang trong trạng thái hoảng loạn, chắc chắn họ sẽ bỏ lại rất nhiều quân cụ. Thật là bi
thảm. Không có lý do gì để bào chữa cho cuộc rút quân như thế, nhưng ngay cả khi điều
đó đã xảy ra, nếu họ được cung cấp viện trợ quân sự mà Tướng Weyand [Tướng Frederick C. Weyand, Tham
mưu trưởng Quân đội Hoa Kỳ] đã khuyến nghị trong tháng qua, tôi tin
rằng với sự yểm trợ quân
sự bổ túc kịp thời
đó, tình hình có thể ổn định, theo tôi, sẽ dẫn đến lệnh ngưng bắn nhanh hơn.
Cronkite:
Thưa Tổng thống, ông đã nói rằng ông không được thông báo về cuộc rút lui này của
Tổng thống Thiệu. Tuy nhiên, ông có chắc chắn rằng không có cố vấn quân sự hoặc
ngoại giao Hoa Kỳ nào ở Sài Gòn không đồng ý với Tổng thống Thiệu rằng một cuộc
rút quân có giới hạn có thể có hiệu quả trong việc gây áp lực buộc Quốc hội bỏ
phiếu thông qua các khoản tiền này và do đó có sự tham gia của Hoa Kỳ vào quyết
định đó phải không?
Tổng
thống Ford: Theo như tôi biết, Walter, không có thông báo trước
cho bất cứ viên chức quân sự hoặc dân sự cao cấp nào của Hoa Kỳ về quyết định
rút quân.
Sevareid:
Toàn bộ vấn đề này sẽ được tranh luận. Sẽ có rất nhiều sách viết về vấn đề này
trong nhiều năm sau. Sẽ
không phải là cách thức khôn
ngoan nếu công bố thư từ giữa cựu Tổng thống Nixon và Tổng thống Thiệu từ năm 1973 sau hiệp định Paris,
hiện đang bị tranh cãi, ông có cảm thấy như vậy?
Tổng
thống Ford: Trước hết, cá nhân tôi đã đọc các bức thư này. Thư từ cá nhân giữa Tổng
thống Nixon và Tổng thống Thiệu là
loại
hồ sơ công cộng.
Cá nhân tôi đã xác minh điều đó. Tôi không nghĩ rằng trong bầu không khí này,
việc thiết lập tiền lệ công bố thư từ cá nhân giữa các nguyên thủ quốc gia là
khôn ngoan.
Có lẽ về mặt lịch sử, sau một thời gian, điều đó có
thể xảy ra trong trường hợp này, nhưng nếu chúng ta thiết lập tiền lệ cho việc
công bố thư từ giữa các nguyên thủ quốc gia, tôi không nghĩ rằng thư từ đó hoặc
loại thư từ đó sẽ mang lại kết
quả vì các nguyên thủ quốc gia - tôi đã học được từ kinh nghiệm bản thân - phải
rất thẳng thắn trong các cuộc trao đổi với nhau, và việc thiết lập tiền lệ rằng
các thư từ như vậy sẽ được công khai
hóa,
tôi nghĩ sẽ giảm hiệu quả
những gì các nguyên thủ quốc gia cố gắng làm để giải quyết vấn đề.
Sevareid:
Tất nhiên, không có cách nào để ngăn Tổng thống Thiệu công bố nó?
Tổng
thống Ford: Không.
Sevareid:
Những thứ như thế này đã được tiết lộ một cách thận trọng khi nó phục vụ mục
đích của Tổng thống hoặc Bộ trưởng Ngoại giao. Ông không có ý định như vậy cho
việc đó sao?
Tổng
thống Ford: Không, tôi không có ý định như vậy, và thành thật
mà nói, với tôi, có vẻ như người dân Mỹ ngày nay đang khao khát một giai đoạn mới. Như tôi đã nói trong bài phát biểu về
tình hình thế giới trước Quốc hội, chúng ta hãy bắt đầu lại.
Bây giờ, trừ khi tôi bị ép buộc, tôi không nói Quốc
hội đã làm điều này hay điều kia. Tôi phải thẳng thắn nếu được hỏi câu hỏi rõ
ràng.
Tôi nghĩ chúng ta nên quay ngược lại quá khứ và xem
xét kỹ lưỡng cách chúng ta có thể giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả
trong tương lai.
Việt Nam đã là một vết thương đối với đất nước này trong 15
năm hoặc nhiều hơn. Rất nhiều người có thể phải chịu trách nhiệm - cả đảng Dân
chủ lẫn đảng Cộng hòa, Quốc hội cũng như Tổng thống.
Chúng ta có một số công việc quan trọng phải làm ở
những nơi khác trên thế giới. Chúng ta có cam kết phải giữ đối với các hiệp ước.
Chúng ta có mối quan hệ với các đối thủ hoặc đối thủ tiềm tàng mà chúng ta nên
quan tâm. Theo tôi, trong những trường hợp này, chúng ta nên hướng về phía trước
và không tập trung vào các vấn đề trong quá khứ, nơi mà nhiều người có thể phải
chịu trách nhiệm.
Cronkite:
Thưa Tổng thống, Phó Tổng thống Rockefeller đã gợi ý rằng ông nghĩ đây sẽ là một
đề tài trong chiến dịch tranh cử năm 1976. Tổng thống sẽ đưa vấn đề này vào năm
1976 hay sẽ cố gắng loại bỏ nó khỏi cuộc vận động tranh cử?
Tổng
thống Ford: Tôi sẽ không đưa vấn đề này vào cuộc vận động
tranh cử năm 1976.
Schieffer:
Ông Rockefeller sẽ làm như ông vừa nói chứ? Tôi không hoàn toàn hiểu ý ông ấy
muốn nói gì trong cuộc phỏng vấn gần đây khi ông ấy nói rằng, nếu 2.000 hoặc
1.000 người Mỹ tử vong trong cuộc di tản này, điều đó sẽ tạo ra một số vấn đề.
Tổng
thống Ford: Vâng, tất nhiên, hồ sơ ghi nhận - bất cứ điều gì một người phục vụ trong chánh
quyền nói - có thể tự nó là một đề tài vận
động tranh cử. Nhưng tôi chỉ có thể nói cho chính mình, và tôi không có ý định
chỉ trích hoặc đưa ra một bài phát biểu liên quan đến những người khác biệt với
tôi mà tôi có thể nghĩ rằng đã góp phần tạo ra vấn đề.
Đến năm 1976, tôi hy vọng chúng ta có thể hướng tới
tương lai, với một số tiến bộ trong lĩnh vực chính sách đối ngoại. Tôi nghĩ rằng
chúng ta đã và đang có một số thành công tiềm tàng mà rất có thể sẽ xảy ra khi
chúng ta hướng tới tương lai.
Vì vậy, thay vì lặp lại quá khứ với tất cả sự chia rẽ và bất hòa giữa
những người tốt ở đất nước này, tôi chỉ hy vọng chúng ta có thể chấp nhận rằng
chúng ta đã phạm một số sai lầm, không cố gắng đổ lỗi, mà quyết định cách chúng
ta có thể giải quyết các vấn đề đang ở trước mắt chúng ta.
Và chúng ta có một vài vấn đề, nhưng chúng có thể giải
quyết được nếu chúng ta gắn bó với nhau, nếu chúng ta có mức độ đoàn kết cao của
người Mỹ.
Cronkite:
Không có nhiều rắc rối khi bỏ qua vấn đề Việt Nam như đất nước đã gặp phải khi chấm
dứt đề tài Việt Nam ở đây tối nay, nhưng tôi muốn hỏi thêm một câu nữa. Ông đã
nói chuyện với cựu Tổng thống Nixon về bất kỳ khía cạnh nào của vấn đề Việt Nam
này trong vài tuần qua chưa?
Tổng
thống Ford: Sau bài phát biểu về tình hình thế giới của tôi
vào ngày 10 tháng 4, ông ấy đã gọi điện thoại cho tôi, chúc mừng tôi về bài
phát biểu, Chúng tôi đã thảo luận về những gì tôi đã nói, Đó là một cuộc trò
chuyện khá ngắn nhưng rất thân thiện qua điện thoại,
Cronkite:
Có nói chuyện nào về các thỏa thuận bí mật không?
Tổng
thống Ford: Theo như tôi nhớ lại cuộc nói chuyện, ông ấy đã nhắc
lại những gì tôi đã nói, rằng thư từ riêng tư liên quan đến các cam kết, về mặt
đạo đức hoặc pháp lý hoặc về phương diện khác cũng thuộc vào
loại hồ
sơ công cộng.
Cronkite:
Nói về bài phát biểu về tình hình thế giới của ông, có nhiều suy đoán ngay trước
bài phát biểu đó rằng ông sẽ sử dụng bài phát biểu đó để tạo dấu ấn riêng của
mình lên chính sách đối ngoại. Tôi nghĩ ngụ ý như là "thoát khỏi cái bóng"
của Ngoại trưởng Henry Kissinger. Ông có cảm thấy mình đã làm như vậy với bài
phát biểu đó không, hay đó có phải là ý định của ông không?
Tổng
thống Ford: Bài phát biểu đó không nhằm mục đích thể hiện bất
kỳ mục đích cụ thể nào, ngoài những vấn đề chúng ta gặp phải, Việt Nam, tất
nhiên, là vấn đề số một trong chương trình nghị sự ………………………………………………………………………………………
Ông
Sevareid: Thưa Tổng thống, tất cả chúng ta đều và đã có cảm
tưởng, kể từ khi ông nhậm chức, về chính sách đối ngoại ông chỉ nghe lời người cố
vấn duy nhất của mình là Henry Kissinger.
Nếu không phải vậy, thì ông còn nghe ai nữa?
Tổng
thống Ford: Đó là một câu hỏi hay, và tôi muốn trả lời nó một
cách thẳng thắn. Tôi nhận được các khuyến nghị từ Hội đồng An ninh Quốc gia. Hội
đồng này gồm có Ngoại trưởng Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng James R.
Schlesinger, Giám đốc CIA, và Chủ tịch Hội
đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Các quyết định quan trọng đến tay tôi một cách
có hệ thống từ các phiếu trình của Hội đồng An ninh Quốc gia.Tôi gặp Ngoại trưởng
Kissinger hàng ngày trong khoảng một giờ, bởi vì tôi nghĩ rằng việc được cập nhật
hàng ngày về tình hình ở các khu vực khác nhau, nơi chúng ta có khả năng đưa ra
quyết định trong chương trình nghị sự, là rất quan trọng. Nhưng, thực sự các
tin tức liên quan đến một quyết định lớn đến từ Hội đồng An ninh Quốc gia.
Sevareid:
Một câu hỏi ngắn nữa về vấn đề này. Đó là phàn nàn của nhiều người đã từng làm
việc với Tổng thống Johnson về chiến tranh Việt Nam rằng ông ấy không bao giờ
có thời gian để đọc bất kỳ cuốn sách nào về Đông Dương, kinh nghiệm của người
Pháp, phong trào Việt Minh, và vân vân. Có bao giờ ông có thời gian để đọc bất
kỳ cuốn sách nào viết về khu vực đó trên thế giới?
Tổng
thống Ford: Trong nhiều năm, tôi đã đọc bốn đến năm cuốn sách,
nhưng tôi đã có kinh nghiệm tham gia trong Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện từ năm
1953, với viện trợ kinh tế-quân sự cho Nam Việt Nam, và trong những phiên điều
trần về khoản chuẩn chi cho viện trợ kinh tế và quân sự, các vấn đề của Nam Việt
Nam, Lào, Campuchia cũng được bàn luận và mổ xẻ.
Vì vậy, tôi nghĩ việc đọc tài liệu bên ngoài, cùng với
lời chứng thực, cộng với cơ hội đến thăm Nam Việt Nam đã cung cấp cho tôi căn bản
khá tốt về lịch sử cũng như tình thế hiện tại.
Cronkite: John Hersey, trong bài viết
xuất sắc đăng trên Tạp chí New York Times ngày hôm qua, nói rằng ông thiếu kiên
nhẫn với những cuộc hiềm khích trong Tòa Bạch Ốc.
Tổng thống Ford: Nói như vậy là
không đúng sự thật.
Cronkite: Tuy
nhiên, các báo cáo đã được loan truyền liên tục ở Washington cho rằng có những viên
chức thân cận nhất của ông trong ban tham mưu Tòa Bạch Ốc muốn thấy Tiến sĩ
Kissinger ra đi. Ông có biết điều đó không?
Tổng
thống Ford: Nếu họ tin điều đó, họ chưa bao giờ nói điều đó với
tôi. Tôi thực sự nghĩ rằng Henry Kissinger là một Ngoại trưởng xuất sắc. Tôi đã
nghĩ vậy kể từ khi tôi biết ông ấy và ông ấy đã giữ chức vụ này. May mắn thay,
mối quan hệ cá nhân của tôi với Ngoại trưởng Kissinger kéo dài 10 hoặc 15 năm,
vì vậy tôi đã biết ông ấy qua một khoảng thời gian, và tôi có cảm giác chắc chắn
rằng ông ấy đã đóng góp rất nhiều cho hòa bình thế giới. Ông ấy là Ngoại trưởng
hiệu quả nhất, trong thời gian tôi phục vụ trong Quốc hội, hoặc trong chức vụ Phó
Tổng thống, hoặc trong Tòa Bạch Ốc. Tôi chưa bao giờ nghe ai trong ban tham mưu
của tôi đề nghị với tôi rằng Ngoại trưởng Kissinger nên rời khỏi chức vụ
Cronkite:
Còn về các đề nghị thì sao?
Tổng thống Ford: Tôi hoàn toàn không
đồng ý với họ và sẽ cho họ biết điều đó một cách thẳng thắn.
Cronkite: Còn về các đề nghị rằng có
thể ai đó nên trở thành Cố vấn An ninh Quốc gia, rằng Kissinger nên từ bỏ một
trong những chức vụ? Ông cảm thấy thế nào về điều đó?
Tổng thống Ford: Nếu dựa trên sơ đồ
tổ chức, tôi nghĩ là anh có thể đưa ra lập luận khá vững rằng công việc đó nên
được chia sẻ. Mặt khác, đôi khi trong chính phủ, anh sẽ gặp những cá nhân độc
đáo có thể rất thành công trong việc đảm nhận nhiều chức vụ như Cố vấn
Kissinger đang làm hôm nay với vai trò là người đứng đầu Hội đồng An ninh Quốc
gia và Bộ trưởng Ngoại giao. Nếu anh có được kiểu người như vậy, anh nên tận dụng
khả năng đó. Vì vậy, trong hoàn cảnh hiện tại, tôi sẽ không khuyên, cũng như
không muốn, tách rời hai trách nhiệm đó.
Cronkite:
Có ai đề cập việc ông ấy từ chức không?
Tổng thống Ford: Tôi đã nói chuyện với
ngoại trưởng Kissinger. Tôi đã yêu cầu ông ấy ở lại và ông ấy cam kết sẽ ở lại
cho đến hết nhiệm kỳ này, vào ngày 20 tháng 1 năm 1977.
________________________________________________________
GHI CHÚ:
Henry Alfred Kissinger được Tổng thống Richard M. Nixon bổ nhiệm làm Ngoại trưởng
vào ngày 21 tháng 9 và giữ chức vụ này từ ngày 23 tháng 9 năm 1973 đến ngày 20
tháng 1 năm 1977. Với việc được bổ nhiệm, ông trở thành người đầu tiên giữ cả
chức Ngoại trưởng lẫn Cố vấn An ninh Quốc gia, một chức vụ mà ông đã nắm giữ kể
từ khi Tổng thống Nixon tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20 tháng 1 năm 1969.
Tuy nhiên, vào ngày 3 tháng 11 năm 1975, Tổng thống Gerald R. Ford đã cách chức
Cố vấn An ninh Quốc gia nhưng vẫn giữ ông làm Ngoại trưởng.
Comments
Post a Comment