ĐỆ THẤT HẠM ĐỘI HOA KỲ CỨU GIÚP THUYỀN NHÂN, đệ thất hạm đội Hoa Kỳ cứu giúp thuyền nhân, tổng thống Carter, biển đông
ĐỆ THẤT HẠM ĐỘI HOA KỲ CỨU GIÚP THUYỀN NHÂN
Thềm Sơn Hà phỏng dịch và bổ túc
Ngày
5 tháng 7 năm 1978, một viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại giao cho biết Tổng thống Carter đã ra lệnh cho các
tàu Mỹ đón những người tị nạn chạy trốn khỏi Đông Dương bằng thuyền và sẽ cho
phép những người tị nạn tái định cư ở Hoa Kỳ nếu họ muốn.
Viên chức
này yêu cầu được giấu tên cho biết: “Họ sẽ được đối xử theo căn bản từng trường
hợp để xác định xem họ muốn đi đâu”.
“Sở Di trú và Nhập tịch sẽ nhanh chóng đưa họ đến nơi họ chọn, gồm cả nơi họ chọn
đến là Hoa Kỳ.”
Quyết định này áp dụng cho tất cả các chiến hạm và thương thuyền đăng ký tại
Hoa Kỳ.
Trước đó rất nhiều tàu thuyền đã từ chối đón người tị nạn vì họ không
muốn gặp khó khăn tại các bến mà họ đến.
Ngoài ra hành động này của Tổng thống Carter cũng là “nổ lực để cứu thuyền nhân
trốn khỏi Việt Nam bỏ mạng ngoài biển”.
(điện văn 034668 ngày 06/7/19 78 từ Bộ Ngoại giao HK)
Ngay sau đó, Đệ thất Hạm đội của Hải quân Hoa Kỳ đã điều động tất cả
các đơn vị trực thuộc trong khu vực Biển Đông để thi hành nhiệm vụ này.
Nguyệt san All Hands tháng 1/1980 của Hải quân
Hoa Kỳ đã mô tả sứ mạng này trong bài viết của Trung sĩ Truyền thông James
R.Giusti với tựa đề:
“Gửi những người vô gia cư, những người trong cơn bão tố này đến với tôi..
(Trích từ bài thơ của Emma Lazarus, trên bệ Tượng Nữ thần Tự
do tại New York)
____________________________________________________
‘Với cuộc ra đi hàng loạt của “thuyền nhân” từ Việt
Nam, hoạt động cứu giúp trên biển đã mang một ý nghĩa sâu sắc hơn.
Trên tàu và
máy bay, những người của Hạm đội 7 đã đi khắp Biển Đông trong nỗ lực hết lòng tích
cực tìm kiếm và cứu vớt “thuyền nhân”.
Các nhiệm vụ tìm kiếm và cứu hộ này là một nỗ lực
nhân đạo có tầm vóc lớn lao.
Năm 1978, các tàu của Hải quân Hoa Kỳ đã cứu 597 người
tị nạn Việt Nam ở Biển Đông.
Từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 21 tháng 7 năm 1979, họ đã cứu thêm 567 người. Duy
nhất trong một khoảng thời gian ba tuần vào mùa hè năm ngoái, các thủy thủ Hạm
đội 7 đã cứu thêm 553 người tị nạn.
Sự gia tăng bắt đầu khi Tổng thống Carter chỉ thị các đơn vị quân đội Hoa Kỳ tích
cực tìm kiếm và cứu giúp những người tị nạn Việt Nam đang gặp nạn. Kể
từ đó, các tàu và máy bay của Hạm đội 7, trực tiếp hoặc gián tiếp, ‘đã gánh vát
trách nhiệm giải cứu gần 1.400 người tị nạn từ những chiếc thuyền bị chết máy và
không đủ điều kiện đi biển.
Phó Đô đốc S. R. Foley Jr. Tư lệnh Hạm đội 7 của Hoa Kỳ cho biết “Việc hỗ
trợ cho ‘thuyền nhân’ thực sự là một nỗ lực của toàn hạm đội,’’ “Ít có ai
trong hạm đội không tham gia theo cách này hay cách khác vào nhiệm vụ đặc biệt
này, cho dù họ là những người trong ban tham mưu soạn kế hoạch phối hợp hoạt
động, phi hành đoàn hoặc người trên tàu quan sát trên mặt nước... để mang những
người tuyệt vọng này đến nơi an toàn.”
Phi cơ không tuần P-3 Orion của Hải quân bắt đầu cuộc tìm kiếm bằng các phi vụ
kéo dài 11 giờ trên các khu vực được chỉ định của Biển Đông. Các hoạt động của không
quân hải quân trở thành một thói quen hàng ngày gồm hai chuyến bay được chỉ
định tìm kiếm người tị nạn, phối hợp bởi Phi đoàn Không tuần I ở Cubi Point và Toán
Đặc nhiệm 72.3 từ Bộ chỉ huy đặt tại Căn cứ Không quân Hải quân, Cubi Point, Phi
Luật Tân.
Phi đội Không tuần 22 (VP 22), hiện đang hoạt động tại Cubi Point, đã thực hiện khoảng 75 phần trăm các chuyến công tác. Các chuyến bay của họ được tăng cường bởi các phi cơ từ các phi đội không tuần VP-50, VP-9 và VP-6.
Sau khi thực hiện hơn 1.200 giờ bay để yểm trợ cứu giúp
người tị nạn, các phi hành đoàn Hạm đội 7 này đã trở nên thành thạo trong việc
phát hiện ra những chiếc thuyền dài từ 20 đến 50 foot (6m-15m) với cao độ nửa dặm
(khoảng 800m).
Trong hai tháng hoạt động họ đã xác định được 37 chiếc thuyền tị nạn và bốn ghe
người tị nạn bị chìm trong số hơn 7.000 đối tượng.
Đôi khi, các phi hành đoàn cảm thấy vô vọng, như là họ đang tìm cây kim trong đống cỏ khô. “Việc tìm ra chiếc ghe hoàn toàn là một nhiệm vụ trực quan,” HQ Đại úy phi công P-3 Roger I. Brueckbauer cho biết. “Radar của chúng tôi phát hiện ra đối tượng chủ yếu là kim loại trong khi ghe của người tị nạn tất cả đều bằng gỗ.”
Nếu người tị nạn cần hỗ trợ, phi hành đoàn P-3 sẽ chỉ
dẫn tàu Hải quân Hoa Kỳ gần đó đến vị trí thuyền. Nếu không có chiến hạm nào gần đó, họ
sẽ cố gắng xác định vị trí các thương thuyền trong khu vực và thông báo cho họ về
tình hình và vị trí của người tị nạn.
Kể từ tháng 7 năm ngoái, các thương thuyền đã cứu được gần 700 người tị nạn.
Các chiến hạm khác của Hạm đội 7 ở Biển Đông cũng đã đảm trách việc theo dõi
tích cực hơn. Trong vòng hai tuần đầu tiên cố gắng mở rộng phạm vi hoạt động,
các tàu của Hạm đội 7 đã cứu giúp 143 người tị nạn.
“Các thủy thủ được giao phó nhiệm vụ quan sát của chúng tôi la lớn lên
'người tị nạn' mỗi khi họ nhìn thấy một chiếc thuyền đánh cá,''
HQ Đại tá W. Lewis Chathan, Hạm trưởng hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk
(CV 63) cho biết. “Thủy thủ đoàn cam kết thực hiện sứ mệnh nhân đạo này,'' ông nói
tiếp “Có cảm giác gì đó khi kéo trẻ em ra khỏi một chiếc thuyền đang chìm;
không ai có thể phủ nhận những cảm xúc đi kèm với điều đó.”
Mặc dù các khía cạnh nhân đạo của cuộc giải cứu là rõ ràng, nhưng cũng có những lợi ích về mặt tinh thần lẫn lộn với cảm xúc.
HQ Thiếu úy Walter P. Purio, trên Tuần dương hạm trang bị hỏa tiễn USS Worden (CG 18) nói “Cảm xúc đáng giá nhất đối với tôi, là lúc tôi đưa một bé gái lên tàu. Bé cười rất tươi, với đôi mắt to màu nâu.”, ông nói tiếp “Khi quyết định cứu vớt những người tị nạn được đưa ra, không chỉ có sự vui mừng trên thuyền của họ mà còn trên cả tàu Worden nữa.”
“Những thủy thủ Hạm đội 7 này chia sẻ một cảm giác đặc biệt,” Phó Đô đốc Foley cho biết. “Điều đó được phản ánh trong sự tham gia cá nhân nồng nhiệt của họ vào sứ mệnh nhân đạo này. Phản ứng của họ trước hoàn cảnh khó khăn của những người tị nạn thực sự thể hiện cá tánh đặc trưng của người Mỹ là sự quan tâm và lòng trắc ẩn, và tôi tự hào về họ.”
Một trong hàng trăm chiếc thuyền chạy trốn Việt Nam kể từ khi cộng sản chiếm
miền Nam và đã dũng cảm chống chọi với sự tàn bạo của đại dương là một chiếc
thuyền đánh cá chật kín người được tàu tiếp tế USS Wabash_AOR 5 cứu.
Người đứng đầu 19 người tị nạn, một hạ sĩ quan của Hải quân Nam Việt Nam, cho biết ông đã nghe trên chương trình phát sóng tiếng Việt của BBC về chỉ thị của Tổng thống Carter và chính sách mới của Hoa Kỳ nhằm tăng gấp đôi số người tị nạn hàng tháng. Ông cho biết ông đã dự định rời Việt Nam trong một thời gian, nhưng "đã nhìn thấy cơ hội để rời đi ngay bây giờ".
“Bất kỳ ai chán ghét nơi họ sống và có đủ can đảm để
bước lên một chiếc thuyền nhỏ như vậy và vượt qua một đại dương rộng lớn đều xứng
đáng nhận bất kỳ sự giúp đỡ nào mà chúng tôi có thể cung cấp.” Charles J.
Benda, Y tá trưởng của tàu Worden phát biểu. Ông nói tiếp: "Họ là những
người cứng cỏi, can đảm, biết họ muốn gì – họ muốn sống trong một xã hội tự
do".
Một nhóm gồm 21 người, chỉ được hướng dẫn bởi một bản
đồ châu Á xé ra từ tập bản đồ của trường học, đã cố gắng vượt qua hơn 1.000 dặm
(1 hải lý=1.852m) sóng to, gió lớn trên một chiếc thuyền đánh cá dài 20 foot (khoảng 6 m) chạy
trên sông.
Khi được cứu bởi USS Parsons (DDG 33), những người tị nạn đã trôi dạt đến cách bờ biển Malaysia 60 dặm, nhưng vẫn còn cảm tưởng là họ đang hướng đến Philippines.
Vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1979, các đơn vị không quân và hải quân của Hạm đội 7 đã hợp tác hầu như hàng ngày để cứu giúp những người tị nạn.
Sự hợp tác giữa hai phi cơ P-3 Orion và tàu tiếp tế USS White Plains (AFS 4) trong một trường hợp đã giải cứu 154 người tị nạn trên hai chiếc thuyền, chiếc nọ kéo chiếc kia. Họ được phát hiện đầu tiên bởi một phi hành đoàn P-3 từ Phi đội 9 Không tuần, ngay lập tức phi cơ đã thả một radio một chiều và hai túi cứu sinh cho họ trong khi chờ tàu đến nơi.
Một chiếc P-3 thứ hai từ Phi đội 9 Không tuần đã cất cánh để thay thế chiếc đầu tiên và đã hỗ trợ hướng dẫn White Plains đến vị trí ghe người tị nạn. Đến 5 giờ sáng ngày 3 tháng 9, tất cả 154 người tị nạn đã được an toàn trên tàu White Plains.
Khi lên tàu của Hạm đội 7, người trên thuyền được
cho ăn, tắm rửa, khám sức khỏe và được cung cấp quần áo và các nhu yếu phẩm
khác.
Sau đó, họ được tàu đưa đến cảng tiếp theo để xin tị nạn tạm thời theo bảo đảm
tái định cư tại Hoa Kỳ.
Phát biểu trước hàng ngũ thủy thủ và phi công trên boong tàu USS Midway (CV 41) vào đầu tháng 9-1979, Phó Tổng thống Walter Mondale nói: “Những gì các anh đang làm là chứng tỏ nước Mỹ ở thời kỳ tốt đẹp nhất.
“Cá nhân tôi tin rằng,” ông nói, “một trong những điều tốt nhất mà chính phủ của chúng ta đã và đang làm trong một thời gian dài là chỉ cần làm điều nhân đạo và sử dụng các thủy thủ và phi công quân sự tài giỏi của chúng ta để tìm kiếm họ, nhìn thấy họ, giúp đỡ họ . . . chúng ta đã cứu được rất nhiều sinh mạng.”
Comments
Post a Comment